- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Kim D - Nguyễn Phúc T"
- Tòa quyết gì? - năm 2015; các Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự - -; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự - -; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 77/2021/HNGĐ-ST Ngày: 14/12/2021 V/v:“Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C - BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Chí Cường.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Phước Thọ.
2. Bà Lý Thị Trúc Linh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Trần Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên tòa: Bà
Trần Hiền Diệu – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 398/2021/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2021 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2021/QĐXXST - HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
Chị Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1997.
Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre.
2.Bị đơn:
Anh Nguyễn Phúc Tuyền, sinh năm 1981.
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt không có lí do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 28/6/2021, bản khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim D có lời trình bày:
Chị Nguyễn Thị Kim D và anh Nguyễn Phúc T tự tìm hiểu, tự nguyện sống chung vào năm 2018, có đăng ký kết hôn năm 2018 và đã nhận được giấy chứng nhận kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre ngày 15/8/2018.
Sau khi kết hôn, quá trình chung sống, thời gian đầu có hạnh phúc tuy nhiên từ năm 2019 cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc do chênh lệch nhiều về tuổi tác từ đó có những bất đồng quan điểm, tính tình không còn hòa hợp, thường hay xung đột, cãi nhau và hai người đã không còn sống chung từ tháng 5/2021, chị trở về quê ở ấp P, xã P, huyện C sinh sống cho đến nay và trong thời gian này cả hai cũng không có biện pháp gì để hàn gắn tình vợ chồng.
- -
Nay chị thấy thực tế tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T và do chị tự nuôi sống bản thân vì vậy không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho chị sau khi ly hôn.
Về con chung: Không có vì vậy chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không có vì vậy chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có vì vậy chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bản khai ngày 22/10/2021, biên bản hòa giải ngày 22/10/2021 anh Nguyễn Phúc T có lời trình bày:
Anh thừa nhận anh và chị Nguyễn Thị Kim D sống chung từ năm 2018, có đăng ký kết hôn năm 2018 và đã nhận được giấy chứng nhận kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre ngày 15/8/2018.
Cả hai đăng ký kết hôn tự nguyện. Sau khi kết hôn thì quá trình chung sống hạnh phúc bình thường, anh không có hành vi đánh đập hay hành hạ hay ngược đãi gì với chị D nhưng chị D lại bỏ nhà ra đi về nhà ngoại sinh sống từ trước đợt dịch bệnh Covid -19 vào khoảng tháng 7/2021 cho đến nay để sống ly thân với anh.
Nay chị D nhất quyết ly hôn nhưng anh còn tình cảm với chị D nên không đồng ý ly hôn, Tòa án cứ giải quyết vụ án theo quy định.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án,Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan điểm giải quyết vụ án:
Do mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng của nguyên đơn, bị đơn đã đến mức trầm trọng; cả hai sống ly thân vào khoảng tháng 7/2021 cho đến nay, hai người không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau đã vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn đối với bị đơn. Về con chung, về tài sản chung và nợ chung do nguyên đơn, bị đơn trình bày không có vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
.Về tố tụng:
Bị đơn trong vụ án vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là phù hợp.
. Về nội dung:
Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện kết hôn, có đăng kí kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận kết hôn của ngày 15/8/2018, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Thời gian sống chung thì hai người phát sinh mâu thuẩn trong đời sống vợ
- - chồng mà nguyên nhân là do chênh lệch nhiều về tuổi tác từ đó có những bất đồng quan điểm, tính tình không còn hòa hợp, thường hay xung đột và cãi nhau.Vợ chồng đã sống ly thân từ khoảng tháng 7/2021 cho đến nay. Hiện nay nguyên đơn xác định tình cảm vợ chồng với bị đơn không còn nên yêu cầu được ly hôn, khi Tòa án tổ chức hòa giải bị đơn có mặt trình bày ý kiến không đồng ly hôn.
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành thông báo hợp lệ các phiên hòa giải với mục đích là hòa giải, động viên nhằm hàn gắn tình cảm, quan hệ giữa vợ chồng cho hai bên tuy nhiên nguyên đơn cương quyết ly hôn, bị đơn có mặt tại lần hòa giải thứ nhất nhưng không đồng ý ly hôn. Qua xác minh tình trạng hôn hôn nhân từ người thân trong gia đình xác định hai bên thực tế có xảy ra mâu thuẩn vợ chồng.
Từ những phân tích, đánh giá như trên, Hội đồng xét xử nhận định bị đơn dù biết ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân nhưng bị đơn đã bỏ mặc cho nguyên đơn tự giải quyết, không tiếp tục đến Tòa án lần thứ hai để hòa giải đoàn tụ, không tham dự phiên tòa xét xử sơ thẩm và không cùng nguyên đơn có các biện pháp tích cực nhằm cải thiện tình trạng hôn nhân của cả hai để kéo dài mối quan hệ vợ chồng. Như vậy tình trạng hôn nhân của cả hai đã trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, Hội đồng xét xử cần thiết phải chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng cho nguyên đơn sau khi ly hôn là do sự tự nguyện của nguyên đơn vì vậy được ghi nhận; riêng bị đơn không có mặt tại phiên tòa để trình bày yêu cầu về cấp dưỡng giữa vợ chồng vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét yêu cầu này.
Về con chung: Nguyên đơn và bị đơn trình bày không có vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Nguyên đơn và bị đơn trình bày không có vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Nguyên đơn và bị đơn trình bày không có vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Lời phát biểu của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tại phiên tòa là phù hợp với việc phân tích, đánh giá chứng cứ của Hội đồng xét xử vì vậy được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đồng, nguyên đơn phải có nghĩa vụ chịu theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng theo biên lai thu số 0000996 ngày 19/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự
- - năm 2015; các Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Cụ thể tuyên:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Kim D được ly hôn với anh Nguyễn Phúc T.
Ghi nhận chị Nguyễn Thị Kim D không yêu cầu anh Nguyễn Phúc T cấp dưỡng cho chị sau khi ly hôn.
2. Về con chung: Không có.
3. Về tài sản chung: Không có.
4. Về nợ chung: Không có.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Kim D phải có nghĩa vụ chịu số tiền 300.000đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng theo biên lai thu số 0000996 ngày 19/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre; - VKSND huyện C; - Chi cục THADS huyện C; - Đương sự; - UBND xã T, huyện C; - Lưu HS vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Chí Cường - - |