- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Công L "Cướp tài sản", "Cướp giật tài sản". - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Công L phạm tội “Cướp tài sản” và “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 168 Bộ luật Hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 2 CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 77/2020/HSST Ngày: 16-11-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 2 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đoàn Nam Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng.
2/ Bà Huỳnh Thị Thanh Thảo.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Tân - Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 2.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 2 tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hưng - Kiểm sát viên sơ cấp.
Ngày 16 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 2, số 1400 đường Đồng Văn Cống, phường Thạnh Mỹ Lợi, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 72/2020/HSST ngày 01/10/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2020/QĐXXST-HS ngày 04/11/2020 đối với bị cáo:
Huỳnh Công L, giới tính: Nam, sinh năm: 1992; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp ĐH, xã TB, huyện C, tỉnh TG; nơi cư trú: Không ổn định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 05/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Huỳnh Công H, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1962; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 17/12/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, theo bản án số 122/2013/HSST. Bị cáo kháng cáo, ngày 12/3/2014 Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xử phúc thẩm tuyên giữ nguyên án sơ thẩm, theo bản án số 46/2014/ HSPT. Chấp hành xong ngày 25/5/2018
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày: 28/4/2020 đến nay, có mặt.
* Bị hại:
- Chị Nguyễn Như Q, sinh năm 1994.
Trú tại: đường L, phường L, quận Đ, Thành phố HN(vắng mặt).
- Chị Thị Kiều A, sinh năm 2000.
Trú tại: TMT, phường TML, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Chị Phạm Thị Tuyết H, sinh năm 1976.
Trú tại: NTD, Khu phố H, phường TML, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Chị Tăng Thị Minh H, sinh năm 1981.
Trú tại: Khu phố B, phường TML, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ, ngày 28/4/2020, Huỳnh Công L điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 60C2-388.XX đi tìm tài sản sơ hở để chiếm đoạt. Khi đi đến gần cột đènTL 3/27 đường dẫn cao tốc Long Thành – Dầu Giây hướng từ Quận 9 đi Quận 2, phường An Phú, Quận 2. L phát hiện chị Nguyễn Như Q điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Grande biển số 59V2-601.XX chở theo 01 bé gái ngồi phía sau, phía trước có đeo 01 túi xách, L điều khiển xe áp sát bên phải xe của chị Q rồi dùng tay trái giật mạnh túi xách bên trong có 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus của chị Q rồi tăng ga tẩu thoát. Lúc này, anh Nguyễn Nhật B và anh Nguyễn Thanh M phát hiện đuổi theo khoảng 100 mét thì băt giữ L cùng tang vật chuyển Công an phường An Phú, Quận 2 xử lý.
Kết luận định giá tài sản số 114 ngày 18/5/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân Quận 2, kết luận 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus có trị giá 2.950.000 đồng; 01 túi xách bằng vải không định giá được.
Vật chứng vụ án:
- 01 xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 60C2-388.XX, qua xác minh do ông Huỳnh Công H là cha ruột của L mua trả góp, L mượn xe của ông H đi công việc, ông H không biết L sử dụng xe vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông H là có căn cứ.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus; 01 túi xách bằng vải màu xám, có quai đeo màu đen đã bị đứt 01 đầu, qua xác minh là tài sản cá nhân của chị Q nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Q là có căn cứ.
- 01 khẩu súng bật lửa dài 18cm, màu xám hiệu Desent Eagle Pistol; 01 con dao xếp dài 20cm, cán bằng nhựa màu vàng dài 11cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 09cm, mũi nhọn, đây là các đồ vật L dùng vào việc phạm tội.
Bản kết luận giám định số 1267 ngày 24/7/2020 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 01 khẩu súng ngắn hiệu Desert Eagle Pistol là bật lửa có hình dáng súng ngắn, không xác định được nơi sản xuất, thuộc nhóm đồ chơi nguy hiểm.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 2, Huỳnh Công L khai nhận ngoài hành vi cướp giật tài sản như đã nêu trên, L còn thực hiện thêm 03 vụ cướp tài sản khác trên địa bàn Quận 2, cụ thể như sau:
Vụ thứ 1: Khoảng 04 giờ, ngày 24/4/2020, Huỳnh Công L điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 60C2-388.XX mang theo 01 khẩu súng bật lửa dài 18cm, màu xám cất giấu ở hộc để đồ ở phía trước xe mô tô rồi chạy lòng vòng ở các tuyến đường trên địa bàn Quận 2 tìm kiếm tài sản sơ hở để chiếm đoạt. Khi đến cầu Thời Đại, khu vực đảo Kim Cương, phường Bình Khánh, Quận 2, L phát hiện chị Thị Kiều A đang điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 59B1-445.XX đi một mình nên L điều khiển xe đi theo sau. Khi chị Kiều A vừa đi qua cầu Thời Đại hướng lưu thông ra đường Mai Chí Thọ, đến cột đèn số 2.8 đường số 104, phường Bình Khánh Quận 2, thấy vắng người qua lại nên L ép xe của chị Kiều A rồi lấy súng bật lửa ra uy hiếp, yêu cầu đưa tài sản, sợ hãi nên chị Kiều A liền dùng tay tháo sợi dây chuyền bằng vàng 18k, trọng lượng 2 chỉ đang đeo ở cổ nhưng chưa tháo được thì L dùng tay trái giật đứt sợi dây chuyền rồi bỏ vào túi quần của L, chị Kiều A tiếp tục lấy số tiền 1.800.000 đồng đưa cho L thì L cất giữ rồi quay xe tẩu thoát, đến ngày 29/4/2020, chị Kiều A đến Công an phường Bình Trưng Tây, Quận 2 trình báo sự việc sau đó Công an phường Bình Trưng Tây chuyển vụ việc đến Công an phường Bình Khánh, Quận 2 giải quyết theo thẩm quyền.
Huỳnh Công L bán sợi dây chuyền bằng vàng 18k, trọng lượng 02 chỉ cướp của chị Kiều A cho tiệm vàng Thanh H, số 1360 Nguyễn Duy Trinh, phường Long Trường, Quận 9, do anh Trần Văn B làm chủ, được 2.750.000 đồng.
Bản kết luận định giá số 114 ngày 18/5/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân Quận 2, kết luận:
- 01 sợi dây chuyền bằng vàng 18k, trọng lượng 2 chỉ có trị giá 6.658.000 đồng.
Vụ thứ 2: Sau khi cướp tài sản của chị Kiều A, khoảng 04 giờ 20 phút, ngày 24/4/2020, L điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 60C2-388.XX đi đến ngã tư đường Đồng Văn Cống và đường Thích Mật Thể, phường Thạnh Mỹ Lợi, Quận 2 thì dừng xe chờ đèn đỏ. Lúc này, L phát hiện chị Phạm Thị Tuyết H điều khiển xe Suzuki Viva biển số 51X5-31XX đi một mình đang dừng chờ đèn đỏ nên L nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của chị H, L điều khiển xe chạy theo sau xe của chị H đến trước cổng trường tiểu học Lương Thế Vinh, đường Trương Văn Bang, phường Thạnh Mỹ Lợi, Quận 2, L chạy xe lên đi song song với chị H và lấy súng bật lửa ra bóp cò nên súng phát ra tia lửa rồi chĩa vào người chị H đe dọa không được la lên, nếu không L sẽ bắn và yêu cầu đưa tiền và tài sản, rồi L ép xe chị H nhưng chị H không dừng lại. Lúc này chị H phát hiện có người đi đường nên chị H tri hô “Cướp, cướp” thì L liền tăng ga bỏ chạy và chưa chiếm đoạt được tài sản. Do bận công việc nên ngày 03/5/2020 chị H mới đến Công an phường Thạnh Mỹ Lợi, Quận 2 trình báo sự việc.
Vụ thứ 3: Khoảng 03 giờ 15 phút, ngày 26/4/2020, L tiếp tục điều khiển xe mô tô biển số 60C2-388.XX đi tìm tài sản sơ hở để chiếm đoạt. Khi L đi đến đường Lâm Quang Ky, Khu phố 1, phường Thạnh Mỹ Lợi, Quận 2, L phát hiện chị Tăng Thị Minh H điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave RS biển số 54X2-4305 đi một mình nên L chặn đầu xe của chị H1 rồi rút súng bật lửa ra uy hiếp. Lúc này chị H1 la lên thì bị L dùng tay đánh 01 cái vào đầu và giật sợi dây chuyền bằng vàng 18k, trọng lượng 2,5 chỉ của chị H1 đang đeo ở cổ, đồng thời lục túi áo của chị H1 để lấy tiền nhưng không có. Lúc này có người đi đường ngang qua nên chị H1 la lên thì L lên xe tẩu thoát, đến ngày 03/5/2020 chị H1 đến Công an phường Thạnh Mỹ Lợi, Quận 2 trình báo sự việc.
Huỳnh Công L bán sợi dây chuyền bằng vàng 18k, trọng lượng 2,5 chỉ cướp của chị H1 cho tiệm cầm đồ N N, Nguyễn Duy Trinh, khu phố Phước Lai, phường Long Trường, Quận 9 do anh Phan Phú D làm chủ được 4.920.000 đồng.
Bản kết luận định giá số 114 ngày 18/5/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân Quận 2, kết luận:
- 01 sợi dây chuyền bằng vàng 18k, trọng lượng 2,5 chỉ có trị giá 8.342.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Thị Kiều A yêu cầu bồi thường số tiền 8.458.000 đồng, chị Tăng Thị Minh H yêu cầu bồi thường số tiền 8.342.000 đồng; Riêng chị Nguyễn Q Như và Phạm Thị Tuyết H, không yêu bồi thường.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên, bị cáo đồng ý với các kết luận giám định và không có ý kiến gì khác.
Bản Cáo trạng số 74/CT-VKSQ2 ngày 24/9/2020 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 2 đã truy tố bị cáo Huỳnh Công L về tội “Cướp tài sản” và “Cướp giật tài sản” theo điểm d, h khoản 2 Điều 168 và điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận: Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 28/4/2020, L điều khiển xe mô tô biển số 60C2-388.XX cướp giật 01 túi xách bên trong có 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus của chị Nguyễn Như Q, có trị giá 2.950.000 đồng, tại gần cột điện TL3/27 đường dẫn Cao tốc Long Thành – Dầu Giây, phường An Phú, Quận 2. Ngoài ra, L còn thực hiện 03 vụ cướp tài sản trên địa bàn Quận 2, cụ thể:
Khoảng 04 giờ, ngày 24/4/2020 L dùng súng bật lửa để ép xe và cướp tài sản của chị Thị Kiều A, gồm 01 sợi dây chuyền bằng vàng và 1.800.000 đồng, có trị giá 8.458.000 đồng, tại gần cột đèn 2.8 đường 104, phường Bình Khánh, Quận 2; Vào lúc 04 giờ 20 phút, ngày 24/4/2020, L tiếp tục sử dụng súng bật lửa đe dọa và ép xe chị Phạm Thị Tuyết H để yêu cầu chị H đưa tiền và tài sản nhưng chưa chiếm đoạt được, tại trước cổng Trường tiểu học Lương Thế Vinh, đường Trương Văn Bang, phường Thạnh Mỹ Lợi, Quận 2 và vào lúc 01 giờ ngày 26/4/2020, L tiếp tục dùng súng bật lửa ép xe và khống chế chị Tăng Thị Minh H để cướp 01 sợi dây chuyền bằng vàng, có trị giá 8.342.000 đồng, tại gần cột đèn 8.34, đường Lâm Quang Ky, phường Thạnh Mỹ Lợi, Quận 2. Tổng trị giá tài sản mà L đã chiếm đoạt trong các lần phạm tội là 19.750.000 đồng.
Hành vi của Huỳnh Công L là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, cần xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản Điều 51 Bộ luật Hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 2 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm d, h khoản 2 Điều 168; điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Công L từ 10 năm đến 11 năm tù, về tội “Cướp tài sản” và từ 04 năm đến 05 năm tù, về tội “Cướp giật tài sản”. Tổng hợp hình phạt thành hình phạt chung cho cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là từ 14 năm đến 16 năm tù.
Bị cáo không tranh luận, không tự bào chữa và nói lời sau cùng:
Bị cáo rất ăn năn hối lỗi, xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi:
Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận thực hiện vụ cướp giật như cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên Tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, Biên bản định giá tài sản, lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng ... và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Huỳnh Công L đã phạm vào tội “Cướp tài sản” và “Cướp giật tài sản” theo Điều 168 và Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như kết luận của Kiểm sát viên.
Hội đồng xét xử đánh giá tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội, gây nguy hiểm ảnh hưởng đến tinh thần, sức khỏe của người bị hại, gây hoang mang dao động trong quần chúng nhân dân. Mặc dù, bản thân bị cáo còn trẻ, có sức khỏe đủ điều kiện để trở thành người có ích cho xã hội, nhưng chỉ vì muốn có tiền mà không phải lao động, bị cáo đã đi cướp, cướp giật nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu xài, nên cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 2 truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai và được Hội đồng xét xử chấp nhận. Cần phải có một mức án nghiêm khắc đối với bị cáo thì mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng định khung hình phạt:
Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo đã sử dụng xe gắn máy, dùng bật lửa có hình dạng súng để uy hiếp cướp và cướp giật tài sản, bị cáo đang có án tích chưa được xóa nay lại tiếp tục phạm tội mới do lỗi cố ý, đây là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt là dùng thủ đoạn nguy hiểm và tái phạm nguy hiểm được quy định tại điểm d, h khoản 2 Điều 168 và điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, nên cần phải áp dụng đối với bị cáo khi lượng hình.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên đối với hành vi cướp giật tài sản nên đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, cần phải áp dụng để xử phạt bị cáo. Xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về dân sự: Người bị hại Nguyễn Q N và Phạm Thị Tuyết H đã nhận lại tài sản và cam kết không khiếu nại, thắc mắc gì về sau nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm. Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại của chị Thị Kiều A và chị Tăng Thị Minh H. Tại phiên Tòa bị cáo đã tự nguyện đồng ý bồi thường thiệt hại cho hai chị, cụ thể: Chị Thị Kiều A số tiền 8.458.000 đồng, chị Tăng Thị Minh H số tiền 8.342.000 đồng như các chị yêu cầu. Xét đây là sự thỏa thuận tự nguyện và không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Đối với: 01 khẩu súng bật lửa dài 18cm, màu xám hiệu Desent Eagle Pistol; 01 con dao xếp dài 20cm, cán bằng nhựa màu vàng dài 11cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 09cm, mũi nhọn, xét đây là công cụ phương tiện L dùng vào việc phạm tội và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với anh Trần Văn B và Phan Phú D, khi mua lại các sợi dây chuyền do L bán, không biết tài sản do L phạm tội mà có, sau khi mua tài sản thì anh B và anh D đã chế tác ra các loại trang sức khác để bán nên không thu hồi được, do đó không có căn cứ để xử lý về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Công L phạm tội “Cướp tài sản” và “Cướp giật tài sản”.
Áp dụng điểm d, h khoản 2 Điều 168; điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Công L 10 (mười) năm tù, về tội “Cướp tài sản” và 04 (bốn) năm tù, về tội “Cướp giật tài sản”. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội thành hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành là 14 (mười bốn) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 28/4/2020.
2. Về phần dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 357; Điều 468; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 590 Bộ luật Dân sự:
Buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Thị Kiều A số tiền 8.458.000 (tám triệu bốn trăm năm mươi tám ngàn) đồng, chị Tăng Thị Minh H số tiền 8.342.000 (tám triệu ba trăm bốn mươi hai ngàn) đồng, thi hành tại Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày chị Kiều A và chị Minh H1 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ đối với số tiền trên thì hàng tháng bị cáo còn phải chịu trả số tiền lãi cho chị Kiều A và chị Minh H1 theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 khẩu súng bật lửa dài 18cm, màu xám hiệu Desent Eagle Pistol; 01 con dao xếp dài 20cm, cán bằng nhựa màu vàng dài 11cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 09cm, mũi nhọn.
Theo Quyết định chuyển vật chứng số 42/QĐ-VKSQ2 ngày 12/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 2.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng về án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 840.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án niêm yết hợp lệ bản án./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP. HCM; - Công an TP.HCM; - Sở Tư pháp TP.HCM; - Viện kiểm sát nhân dân Quận 2; - Thi hành án Dân sự Quận 2; - Công an Quận 2; - Thi hành án Hình sự; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Đoàn Nam Hà |