- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Phan Thị Xuân T và anh Huỳnh Công N"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Xuân T tại đơn khởi kiện đề ngày 04 tháng 9 năm 2020.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 77/2020/HNGĐ-ST Ngày 30-11-2020 V/v tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Khắc Hiếu và bà Trần Thị Ngọc Điểm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Lê Trúc Uyên – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 441/2020/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2020 về tranh chấp “Không công nhận quan hệ vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2020/QĐXX-ST ngày 10 tháng 11 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phan Thị Xuân T, sinh năm 1971; Địa chỉ: Khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Huỳnh Công N, sinh năm 1970; Nguyên quán: thôn N, xã H, thành phố T, tỉnh Phú Yên; ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có tại hồ sơ, nguyên đơn chị Phan Thị Xuân T trình bày: Chị và anh Huỳnh Công N tự nguyện tìm hiểu, sau đó hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán. Từ năm 1988 cho đến nay, chúng tôi sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Sau khi cưới nhau về, chúng tôi sống hạnh phúc tại xã Hoà Kiến được 03 năm thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng về quan điểm sống. Chúng tôi không còn chung sống cùng nhau hơn 20 năm nay, anh N vào tỉnh Bình Thuận sinh sống, còn chị sống ở tỉnh Phú Yên, không ai còn quan tâm và chăm sóc lẫn nhau. Nay chị xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, mâu thuẫn đã trầm trọng nên chị yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị với anh Huỳnh Công N.
- Về con chung: Có 03 con chung tên Huỳnh Công N1, sinh ngày 22/8/1989; Huỳnh Công N2, sinh ngày 22/9/1991; Huỳnh Công N3, sinh ngày 21/8/1995. Hiện các con đã trưởng thành và đủ khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Tại bản tự khai và các tài liệu có tại hồ sơ, anh Huỳnh Công N trình bày: Quá trình chung sống và nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn đúng như chị T trình bày. Từ khi cưới nhau về, chúng tôi chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Chúng tôi đã không còn sống chung cùng nhau hơn 20 năm nay, không ai còn quan tâm và chăm sóc lẫn nhau. Nay anh xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, mâu thuẫn đã trầm trọng nên anh cũng yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh với chị Phan Thị Xuân T.
- Về con chung: Có 03 con chung tên Huỳnh Công N1, sinh ngày 22/8/1989; Huỳnh Công N2, sinh ngày 22/9/1991; Huỳnh Công N3, sinh ngày 21/8/1995. Hiện các con đã trưởng thành và đủ khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên tòa:
- Các đương sự có đơn xin xét xử vắng mặt, giữ nguyên ý kiến trình bày.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 9, Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Phan Thị Xuân T với anh Huỳnh Công N. Về con chung: Có 03 con chung tên Huỳnh Công N1, sinh ngày 22/8/1989; Huỳnh Công N2, sinh ngày 22/9/1991; Huỳnh Công N3, sinh ngày 21/8/1995. Hiện các con đã trưởng thành và đủ khả năng lao động, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Chị Phan Thị Xuân T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Phan Thị Xuân T yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng với anh Huỳnh Công N, đương sự có biên bản thỏa thuận lựa chọn Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên giải quyết là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên theo quy định tại Điều 28, Điều 35 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa đã tiến hành triệu tập hợp lệ anh N, chị T để xét xử nhưng đương sự đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng Dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các bên đương sự.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Xuân T và anh Huỳnh Công N tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1988 cho đến nay, mặc dù có đủ điều kiện kết hôn nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Trong thời gian chung sống, đã xảy ra những mâu thuẫn như các đương sự đã trình bày. Xét yêu cầu của chị T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 9, Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Phan Thị Xuân T và anh Huỳnh Công N.
Về con chung: Có 03 con chung tên Huỳnh Công N1, sinh ngày 22/8/1989; Huỳnh Công N2, sinh ngày 22/9/1991; Huỳnh Công N3, sinh ngày 21/8/1995. Hiện các con đã trưởng thành và đủ khả năng lao động, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Phan Thị Xuân T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 9, Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Xuân T tại đơn khởi kiện đề ngày 04 tháng 9 năm 2020.
Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Phan Thị Xuân T và anh Huỳnh Công N.
Về án phí HNGĐ-ST: Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Chị Phan Thị Xuân T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001748 ngày 08/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Yên; - VKSND TP. Tuy Hòa; - Chi cục THADS TP. Tuy Hoà; - UBND xã H, TP. T, Phu Yên; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thanh Vân |