- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Mai Văn Th- Phạm Thị Nh"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Mai Văn Th và chị Phạm Thị Nh.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 77/2020/HNGĐ-ST Ngày 25-3-2020 V/v ly hôn giữa anh Th và chị Nh |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Hòe.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Văn Bình;
Ông Nguyễn Ngọc Chinh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Xuyến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
Ngày 25 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 62/2020/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2020/QĐXXST
- HNGĐ ngày 16 tháng 3 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Mai Văn Th, sinh năm 1987; địa chỉ: Ấp Vườn Dừa, xã PT, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai.
Bị đơn: Chị Phạm Thị Nh, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ dân phố số 5, thị trấn TL, huyện HH, tỉnh Nam Định.
(Anh Th, chị Nh đều vắng mặt có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 27-02-2019 và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn anh Mai Văn Th trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Mai Văn Th và chị Phạm Thị Nh đăng ký kết hôn ngày 09-01-2013 tại Ủy ban nhân dân xã Phước Tân, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc tại Ấp Vườn Dừa, xã Phước Tân, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân là do tính tình, quan điểm sống không hợp. Ngoài ra, do chị Nh thường xuyên ốm đau nên vợ chồng chưa có con chung. Từ đó, tình cảm vợ chồng lạnh nhạt, cuộc sống chung không hạnh phúc. Từ năm 2015, chị Nh đã bỏ về ở cùng bố mẹ đẻ, vợ chồng sống ly thân, chấm dứt quan hệ tình cảm, trách nhiệm từ đó cho đến nay. Nay anh Th nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, bản thân anh và chị Nh đều không muốn hàn gắn nên anh làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với chị Nh.
Về con chung và tài sản: Quá trình chung sống, anh Th và chị Nh không có con chung, không có tài sản chung, không vay nợ chung nên anh Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 06-3-2020, bị đơn chị Phạm Thị Nh có lời khai phù hợp với lời khai của anh Th về thời gian kết hôn, quá trình chung sống, mâu thuẫn vợ chồng, thời gian sống ly thân. Nay anh Th làm đơn xin ly hôn, xét thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn nên chị Nh nhất trí thuận tình ly hôn.
Về con chung và tài sản: Chị Nh cũng xác định, giữa chị và anh Th chưa có con chung, không tài sản chung, không vay nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do điều kiện công việc, sức khỏe, anh Th và chị Nh đều có đơn xin xét xử vắng. Trong đơn xin xét xử vắng mặt, anh Th, chị Nh giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, anh Mai Văn Th và chị Phạm Thị Nh đều có đơn xin giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh Th, chị Nh là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ vợ chồng giữa anh Mai Văn Th và chị Phạm Thị Nh là quan hệ hôn nhân hợp pháp vì được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã Phước Tân, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đăng ký kết hôn ngày 09-01-2013. Vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình, quan điểm sống không hợp. Ngoài ra, việc chị Nh thường xuyên ốm đau, gặp khó khăn trong vấn đề sinh đẻ cũng là một trong những nguyên nhân khiến tình cảm vợ chồng lạnh nhạt, cuộc sống chung không hạnh phúc. Chị Nh, anh Th đều thừa nhận, từ năm 2015, chị Nh về ở cùng bố mẹ đẻ, vợ chồng sống ly thân và chấm dứt quan hệ tình cảm, trách nhiệm từ đó đến nay. Trong thời gian sống ly thân, anh Th, chị Nh đều không có biện pháp, hành động thiết thực nhằm hàn gắn tình cảm nên vợ chồng ngày càng xa cách. Nay anh Th, chị Nh đều xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án cho ly hôn.
Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Th, chị Nh đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận nguyện vọng xin ly hôn của anh Th, chị Nh là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung và tài sản: Anh Mai Văn Th và chị Phạm Thị Nh đều xác nhận vợ chồng không có con chung, không có tài sản và công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, về con chung và tài sản chung, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về án phí: Anh Mai Văn Th phải nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Mai Văn Th và chị Phạm Thị Nh.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; anh Mai Văn Th phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tại biên lai số 0002023 ngày 05-3-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu. Anh Mai Văn Th đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Đương sự;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh;
- VKSND huyện;
- Chi cục THADS huyện;
- UBND xã Phước Tân;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu văn phòng.
Ngô Thị Hòe THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA B Bùi Văn Bình Nguyễn Ngọc Chinh
Ngô Thị Hòe
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND tỉnh; - VKSND huyện; - Chi cục THADS huyện; - UBND xã Phước Tân; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu văn phòng. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ BBùi Văn Bình Nguyễn Ngọc Chinh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Hòe THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Hòe |