vanban.org

Bản án 77/2020/HNGĐ-PT — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 30/05/2020 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/05/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hộiquy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Sửa án sơ thẩm: Chấp nhận một phần kháng cáo của anh Nguyễn Huy C đối với Bản án sơ thẩm số 26/2020/HNGĐ-ST ngày 20/01/2020 Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Kiện xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hộiquy định về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 77/2020/HNGĐ-PT
Ngày 30/5/2020

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

“V/v: Xin Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂNTHÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Tiến Phong.

Các Thẩm phán:

Bà: Nguyễn Thị Thanh Huyền

Ông Phan Quyết Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng, Thư ký tòa án.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Mai Thanh- Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khaivụ án thụ lý số: 89/2020/TLPT- HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2020 về xin ly hôn.

Do bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 26/2020/HNGĐ-ST ngày 20 tháng 01 năm 2020 của Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 94/2020 /QĐPT- HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2020 giữa:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1991; chỗ ở: Số bc Nghi Tàm, phường Yên Phụ, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội, có mặt.

Bị đơn kháng cáo: Anh Nguyễn Huy C, sinh năm 1991; chỗ ở: Phòng 503 số 4 phố HT, phường C, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị và anh Nguyễn Huy C xây dựng gia đình với nhau có tìm hiểu, tự nguyện và đăng ký kết hôn ngày 13/3/2017 tại UBND xã Minh Quân, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 5/2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị H nghi ngờ anh C có quan hệ với người phụ nữ khác dẫn đến bất đồng trong quan điểm sống; vợ chồng thiếu sự chia sẻ. Chị H đến chỗ chị gái ở từ tháng 7/2019 và ly thân từ đó. Nay chị H xác định tình cảm không còn, đề nghị được giải quyết ly hôn.

Về con chung: Chị H và anh C có 01 con chung là Nguyễn Huy Gia Khánh, sinh ngày 11/9/2017, hiện cháu đang sống cùng chị. Khi ly hôn chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và vay nợ: Chị H khẳng định không có tài sản chung, không có vay nợ, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Nguyễn Huy C trình bày: Anh C xác nhận về thời gian, điều kiện kết hôn như chị H trình bày. Anh C xác nhận trong cuộc sống vợ chồng anh có mâu thuẫn nhưng chỉ là mâu thuẫn nhỏ nhặt, không lớn. Chị H có bạn trai hay chát qua điện thoại và tự tạo lý do ghen tuông vô cớ nghi ngờ anh có bạn gái; sau đó, đã tự ý chuyển đến chỗ chị gái thuê để ở (Chị gái chị H cũng bỏ chồng). Mặc cho anh hết sức yêu vợ con, đã đến đón chị H nhiều lần để về nhà nhưng chị H không về. Chị H xin ly hôn, anh không đồng ý nên anh kệ chị H và không có mặt ở Tòa án cấp sơ thẩm khi giải quyết. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết quá nhanh chóng và bỏ qua các quyền lợi của anh; do vậy anh kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án trên để vợ chồng anh được đoàn tụ.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Nguyễn Huy Gia Khánh, sinh ngày 11/9/2017. Nếu phải ly hôn anh đề nghị được nuôi dưỡng con, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và vay nợ: Anh C khẳng định không có tài sản chung, không có vay nợ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản án số 29/2020/HNGĐ-ST ngày 20/01/2020 Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm đã quyết định:

Xử:

- Về tình cảm: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H. Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Huy C.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Huy Gia Khánh, sinh ngày 11/9/2017 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành hoặc có sự thay đổi khác. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh C cho đến khi chị H có yêu cầu hoặc đến khi có sự thay đổi khác.

Anh Nguyễn Huy C có quyền thăm nom chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh chị không có và không yêu cầu Tòa giải quyết nên không xét.

Ngoài ra, Tòa án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 06/02/2020 anh Nguyễn Huy C đã nộp đơn kháng cáo đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm số 26/2020/HNGĐ-ST ngày 20/01/2020 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm với lý do anh vẫn còn yêu chị H và Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết quá nhanh, bỏ qua các quyền lợi của anh được pháp luật quy định.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Anh C giữ nguyên nội dung kháng cáo, anh đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại Bản án sơ thẩm do Tòa án quận Nam Từ Liêm đã xử vì anh C cho rằng việc xét xử không đảm bảo tính minh bạch, khách quan. Trường hợp phải ly hôn thì anh C đề nghị được nuôi dưỡng con chung, vì anh có đủ điều kiện về kinh tế, chỗ ở cũng như thời gian chăm sóc con. Anh C không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

Chị H không đồng ý với nội dung kháng cáo của anh C. Chị H giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh C vì cho rằng , mâu thuẫn của anh chị phát sinh do hai người có quan điểm sống quá khác nhau, anh chị không có tiếng nói chung nên thường xuyên to tiếng khiến cho tinh thần và tâm sinh lý của chị hết sức áp lực mệt mỏi. Chị H vẫn đề nghị được nuôi dưỡng con chung khi ly hôn và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.

Anh C nộp bổ sung 01 Đơn xin xác nhận công tác và xác nhận lương của Giám đốc công ty cổ phần giáo dục Worldlink, ngoài ra không nộp thêm tài liệu gì khác. Chị H không có tài liệu chứng cứ nộp bổ sung.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng thủ tục tố tụng, đảm bảo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Huy C kết hôn có tìm hiểu, tự nguyện và đăng ký kết hôn ngày 13/3/2017 tại UBND xã Minh Quân, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái là hôn nhân hợp pháp. Chị H, anh C và có 01 con chung là cháu Nguyễn Huy Gia Khánh, sinh ngày 11/9/2017. Qua thực hiện việc Kiểm sát hồ sơ tại cấp phúc thẩm vụ án Hôn nhân gia đình trên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã bỏ qua các quyền lợi của bị đơn khi xét xử vắng mặt; nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm thủ tục tố tụng nên Viện kiểm sát đề nghị với Hội đồng xét xử hủy Bản án sơ thẩm, giao hồ sơ lại để Tòa án cấp sơ thẩm điều tra xét xử lại theo thủ tục chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hình thức: Đơn kháng cáo Bản án gửi ngày 06/02/2020 anh Nguyễn Huy C nộp nằm trong hạn luật định, có nội dung và hình thức phù hợp với nội dung vụ án nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử phúc thẩm.

Về Nội dung: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Huy C kết hôn có tìm hiểu, tự nguyện và đăng ký kết hôn ngày 13/3/2017 tại UBND xã Minh Quân, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái; đây là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Cả anh chị đều thừa nhận có cuộc sống chung hạnh phúc đến giữa năm 2019 mới phát sinh mâu thuẫn. Khi mâu thuẫn thì chị H chuyển ngay đến chỗ chị gái ở và vợ chồng ly thân từ đó. Nay chị H xin ly hôn, anh C không đồng ý.

Về con chung: Có 01 con chung là cháu Nguyễn Huy Gia Khánh, sinh ngày 11/9/2017. Nếu phải ly hôn, cả anh C và chị H đều có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung; cả hai đều có công việc và thu nhập ổn định.

Về tài sản và vay nợ, chị H và anh C đều xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Xét kháng cáo anh Nguyễn Huy C Hội đồng xét xử thấy: Mâu thuẫn giữa anh C và chị H chưa lớn, chủ yếu xuất phát từ việc nuôi dạy và gửi giữ con chung; trong cuộc sống vợ chồng hay có sự nghi ngờ lẫn nhau, không chia sẻ và thống nhất giải quyết mâu thuẫn. Khi mâu thuẫn nổ ra thì 02 bên không chọn cách đối thoại giải quyết mà chị H lại chuyển ngay đến sống cùng chị gái và cự tuyệt với tình cảm của anh C.

Vợ chồng anh C và chị H là vợ chồng trẻ, có thời gian sống hạnh phúc dài nên Hội đồng xét xử sẽ tạo thời gian để anh chị hàn gắn mâu thuẫn, khắc phục những khuyết điểm của nhau; mục đích là để xây dựng hạnh phúc gia đình và nuôi dạy con chung. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của anh C, bác đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H.

Do bác đơn xin ly hôn của nguyên đơn nên vấn đề con chung và tài sản chung của 02 bên không đặt ra. Nếu chị H tiếp tục có đơn yêu cầu xin ly hôn anh C , thì sau 01 năm, kể từ ngày Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật, chị H mới có quyền nộp đơn đến Tòa án để giải quyết.

- Các quyết định khác không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành.

Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của anh Nguyễn Huy C được chấp nhận nên anh không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, khoản 2 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hộiquy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Sửa án sơ thẩm:

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của anh Nguyễn Huy C đối với Bản án sơ thẩm số 26/2020/HNGĐ-ST ngày 20/01/2020 Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

- Xử: Bác đơn ly hôn của chị Nguyễn Thị H đối với anh Nguyễn Huy C, nên vấn đề về con chung và tài sản chung của 02 bên không đặt ra.

2.Về án phí: Anh Nguyễn Huy C không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm. Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà anh C nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm số 0009128 ngày 11/02/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm được trả lại cho anh C.

Các quyết định khác không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ