- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Bích T được ly hôn với anh Trần Quốc P.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 77/2019/HNGĐ-ST Ngày: 17/7/2019 V/v “Ly hôn, t/c về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Lâm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Hoàng
2. Bà Diệp Thị Thu Nguyệt
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thanh Thúy – Là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn: Không tham gia phiên tòa.
Trong ngày 17 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 169/2019/TLST-HNGĐ ngày 18/4/2019 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/6/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 100/2019/QĐ-ST ngày 28/6/2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Bích T, sinh năm 1976.
Địa chỉ: ấp M, xã M, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Tạm trú: ấp H, xã Đ, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Anh Trần Quốc P, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Số 649 Nguyễn Huệ ấp N, thị trấn N, huyện Thoại Sơn, tỉnh An
Giang.
Nguyên đơn chị T có mặt. Bị đơn anh P vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện và lời khai tại phiên tòa chị Lê Thị Bích T trình bày:
Do mai mối chị với anh Trần Quốc P chung sống với nhau vào năm 2004, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi cưới do không có tình cảm nên vợ chồng chung sống không được hạnh phúc, trong cuộc sống anh P không chăm lo cho gia đình mà thường xuyên nhậu nhẹt nên vợ chồng cãi nhau, anh P có đuổi chị đi nên chị đã quyết định về nhà cha mẹ ruột sống từ năm 2005 và vợ chồng cũng chính thức sống ly thân cho đến nay. Trong quá trình sống ly thân cũng được cha mẹ hai bên hàn gắn nhưng không thành. Do vợ chồng ly thân đã lâu nên tình cảm không còn, không thể hàn gắn được nên chị T yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Bích T xin được ly hôn với anh Trần Quốc P.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Quang L sinh ngày 09/3/2006 hiện đang sống với chị T. Sau ly hôn chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
* Về phía bị đơn anh Trần Quốc P: Tòa án đã tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho anh P nhưng từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay anh P vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của chị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
[1] Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn và nuôi con. Bị đơn anh Trần Quốc P có đăng ký thường trú tại ấp N, thị trấn N, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn.
Bị đơn anh Trần Quốc P đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh P.
- Về nội dung tranh chấp:
Chị Lê Thị Bích T và anh Trần Quốc P chung sống với nhau từ năm 2004, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân thị trấn Núi Sập, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 61KH quyển số 01/2004 ngày 04/5/2004. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xét yêu cầu của chị Lê Thị Bích T, thấy: Vợ chồng chị T và anh P đã sống ly thân từ năm 2005 cho đến nay. Chị T trình bày rằng sau khi cưới do không có tình cảm nên vợ chồng sống với nhau không hạnh phúc, thường xuyên cãi nhau, anh P cũng thường xuyên nhậu nhẹt, không chăm lo cho gia đình. Từ khi thụ lý vụ án Tòa án tiến hành thông báo hòa giải nhằm mục đích động viên, hàn gắn nhưng anh P vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện nguyện vọng muốn được hàn gắn quan hệ vợ chồng với chị T để xây dựng hạnh phúc gia đình và chăm sóc con chung. Căn cứ Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị T và anh P không còn, tình trạng hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó có đủ căn cứ để áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Bích T.
Về quan hệ con chung, thấy: Qua chứng cứ chị T cung cấp thì chị T và anh P có 01 con chung tên Lê Quang L sinh ngày 09/3/2006, từ khi vợ chồng sống ly thân thì chị T là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Mặt khác, qua quá trình lấy ý kiến cháu L cũng có nguyện vọng được sống với chị T sau khi cha mẹ ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ áp dụng Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao con chung Lê Quang L cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem.
Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội chị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Bích T được ly hôn với anh Trần Quốc P.
Giấy chứng nhận kết hôn số 61KH quyển số 01/2004 ngày 04/5/2004 của Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.
- Về quan hệ con chung: Chị Lê Thị Bích T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung Lê Quang L sinh ngày 09/3/2006.
Chị T phải tạo điều kiện cho anh P được quyền đến thăm nom con, không ai được ngăn cản.
Vì lợi ích của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con hay việc cấp dưỡng nuôi con
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Ghi nhận không có. Tuy nhiên sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị Lê Thị Bích T và anh Trần Quốc P phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
2. Về án phí: Chị Lê Thị Bích T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000129 ngày 18/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang nên đã nộp xong.
Chị Lê Thị Bích T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Trần Quốc P có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã (thị trấn) nơi cơ trú để yêu cầu xem xét phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKS huyện Thoại Sơn; - Chi Cục THADS huyện Thoại Sơn; - UBND TT. N, - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Hoài Lâm |