- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Nguyễn Lệ T, Nguyễn Văn D.
- Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN N DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 77 /2019/DS-ST Ngày: 25-9-2019. “V/v tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm”. |
N DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN N DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Huyền.
Các Hội thẩm N dân:
Bà: Quang Kim Cúc.
Ông: Đặng Văn Hai.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Diễm Quỳnh - Thư ký Toà án N dân huyện Lai Vung.
- Đại diện Viện kiểm sát N dân huyện Lai Vung tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thu Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2019 tại Hội trường xét xử Toà án N dân huyện Lai Vung xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 88/2019/TLST-DS, ngày 02 tháng 4 năm 2019, “V/v tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2019/QĐST-DS, ngày 03 tháng 9 nămn2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Lệ T, sinh năm: 1977; Nguyễn Văn D, sinh năm: 1973; Cùng địa chỉ: ấp Đ P, xã Đ H, huyện L V, tỉnh Đồng Tháp.
Là đại diện theo pháp luật cho Nguyễn Văn P, sinh ngày 17/7/2002; Địa chỉ: ấp Đ P, xã Đ H, huyện L V, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Mai Thành N, sinh năm: 1998; Địa chỉ: ấp Đ P, xã Đ H, huyện L V, tỉnh Đồng Tháp.
Ủy quyền cho ông Nguyễn Ngọc Ẩ, sinh năm 1956; Địa chỉ: ấp L K, xã L H, huyện L V, tỉnh Đồng Tháp. Theo Giấy Ủy quyền ngày 25/4/2019 được chứng thực số 942 quyển số 01/2019-SCT/CK,ĐC.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm: 1976; Địa chỉ: ấp Đ P, xã Đ H, huyện L V, tỉnh Đồng Tháp.
- Người làm chứng:
1. Lê Thành L, sinh năm: 2002; Địa chỉ: ấp Đ P, xã Đ H, huyện L V, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo pháp luật cho Lê Thành L là Lê Xà B, sinh năm: 1974; Địa chỉ: ấp Đ P, xã Đ H, huyện L V, tỉnh Đồng Tháp.
2. Trần Trí D, sinh năm: 2000; Địa chỉ: ấp Đ P, xã Đ H, huyện L V, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo pháp luật cho Trần Trí D là Đoàn Văn M, sinh năm: 1973; Địa chỉ: 184/2 ấp Đ P, xã Đ H, huyện L V, tỉnh Đồng Tháp.
3. Lê Hoàng T, sinh năm: 2003; Địa chỉ: 125A/2, ấp Định Mỹ, xã Định Hòa, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo pháp luật cho Lê Hoàng T là Lê Hoàng Th, sinh năm: 1977; Địa chỉ: ấp Đ M, xã Đ H, huyện L V, tỉnh Đồng Tháp.
4. Tăng Minh K, sinh năm: 2001; Địa chỉ: ấp Đ P, xã Đ H, huyện L V, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo pháp luật cho Tăng Minh K là Tăng Văn H, Địa chỉ: ấp Đ P, xã Đ H, huyện L V, tỉnh Đồng Tháp.
5. Phùng Văn T, sinh năm: 1963; Địa chỉ: ấp Đ M, xã Đ H, huyện L V, tỉnh Đồng Tháp.
(Nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền của bị đơn có mặt; Tất cả người làm
chứng vắng mặt )
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa nguyên đơn Nguyễn Lệ T và Nguyễn Văn D đại diện cho Nguyễn Văn P trình bày:
Vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 12/01/2016 tại phần đất của ông hai Thổ thuộc ấp Định Mỹ, xã Định Hòa; Nguyễn Văn P, Lê Thành L, Trần Chí D, Lê Hoàng T, Tăng Minh K đang chơi chuyền bóng thì Mai Thành N đến giật lấy trái bóng, P, L, D, T, K chạy theo giành lại nhưng không được, L đến xe của N lấy chìa khóa xe để đổi lấy trái bóng nhưng N vẫn không trả, P đi ra sau lưng N để lấy trái bóng nhưng không lấy được; P, L, D chuyền chìa khóa qua lại với nhau, P tiếp tục đến phía sau lưng của N để lấy lại trái bóng vẫn không lấy được, N quay lại rượt P, P chạy, N dùng chân đá trúng làm P té, N nhào lên đạp lưng của P làm gãy xương đòn vai phải rồi N chửi P thách thức và bỏ đi về, gia đình bà Th đưa P đi bó thuốc nam tại nhà ông Út Cánh. Sáng ngày 13/01/2016 P nhập viện điều trị tại Bệnh viện đa khoa Sa Đéc đến ngày 15/01/2016 xuất viện, sau đó điều trị tại Trung tâm chấn tương chỉnh hình thành phố Hồ Chí Minh, Khoa nhi Bệnh viện Cần Thơ, theo bản kết luận giám định pháp y về thương tích ngày 02/6/2016, tỉ lệ thương tật 16% tổng chi phí điều trị thương tích, tiền xe đi lại, chi phí ăn uống là 5.930.000 đồng, trừ lại 250.000 đồng mẹ của N là bà T đưa dư khi điều trị tại Bệnh viện Sa Đéc, còn lại là 5.680.000 đồng; Tiền công bị mất của người chăm sóc cho P là 30 ngày trong thời gian P dưỡng bệnh tại nhà, 03 ngày nằm viện từ ngày 13/01/2016 đến ngày 15/01/2016, 06 ngày đi tái khám và giám định thương tích, tổng cộng 39 ngày (tiền công lao động thu nhập bình quân ở địa phương là 120.000 đồng/01 ngày) 39 ngày x 120.000 đồng/01 ngày = 4.680.000 đồng.
P bị gãy xương đòn nên bị khủng hoảng tinh thần phải điều trị rối loạn thần kinh hỗn hợp cảm xúc tại Bệnh viện tâm thần Trung ương 2 Biên Hòa từ ngày 26/8/2016 đến ngày 08/9/2016, điều trị uống thuốc theo toa, tái khám tổng chi phí điều trị là 22.365.000 đồng (từ ngày 26/8/2016 đến 26/6/2019 là 20.640.000 đồng, 05 biên lai thuốc 1.725.000 đồng); tiền công người nuôi bệnh (14 ngày x 120.000 đồng; 02 ngày x 180.000 đồng) là 2.040.000 đồng; tiền xe, chi phí ăn uống là 4.950.000 đồng, tổng cộng 29.355.000 đồng. Tại phiên tòa nguyên đơn điều chỉnh và yêu cầu bổ sung tiền chi phí điều trị uống thuốc theo toa, tái khám, tiền công người nuôi bệnh là 26.555.556 đồng và tiền uống thuốc theo toa 7.200.000 đồng, tổng cộng là 33.755.556 đồng.
Tiền tổn thất tinh thần là 30 tháng lương cơ sở theo quy định pháp luật x 1.490.000 đồng là 44.700.000 đồng.
Tinh thần P trước khi N làm gãy xương đòn vai phải là bình thường, sau khi bị gãy xương do đau đớn nên phát bệnh rối loạn thần kinh vào tháng 8 năm 2016, chứng cứ chứng minh là việc P điều trị tâm thần tại bệnh viện, trong thời gian công an huyện Lai Vung điều tra tinh thần P không ổn định nên phải đi điều trị. Bác sĩ cho rằng do quá đau đớn nên P bị bệnh thần kinh chỉ là lời nói, tài liệu chứng cứ chứng minh lời Bác sĩ nói là không có và cũng không yêu cầu giám định nguyên N P bị rối loạn thần kinh hỗn hợp cảm xúc là do N làm P bị gãy xương đòn vai phải nên P mới bị bệnh. Tiền chi phí điều trị thương tích, chăm sóc cho P do vợ chồng bà Th chi trả.
Bà Nguyễn Lệ T, ông Nguyễn Văn D yêu cầu Mai Thành N bồi thường cho Nguyễn Lệ T, Nguyễn Văn D toàn bộ chi phí điều trị thương tích cho Nguyễn Văn P, Giai đoạn 1 là 10.360.000 đồng (tiền nằm viện điều trị, tiền ăn uống, chi phí đi lại, tiền thuốc 5.680.000 đồng; Tiền công người nuôi bệnh, chăm sóc 4.680.000 đồng); Giai đoạn 2 là 33.755.556 đồng; Tiền tổn thất về tinh thần là 44.700.000 đồng. Nếu sau này có phát sinh phải mổ sắp xương do bị gãy xương đòn vai phải, tiền thuốc, chi phí điều trị thì sẽ khởi kiện thành vụ án khác. Ngoài ra không trình bày hay yêu cầu gì thêm khác.
* Theo tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của bị đơn Mai Thành N là ông Nguyễn Ngọc Ẩ trình bày:
Vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 12/01/2016 tại phần đất của ông hai Thổ thuộc ấp Định Mỹ, xã Định Hòa, Mai Thành N thừa nhận trong lúc rượt theo P, do N tránh không kịp nên dẫm lên người P làm P bị gãy xương đòn vai phải. Mai Thành N không cố ý gây thương tích cho P và qua quá trình điều tra Công an huyện Lai Vung đã ra Quyết định không khởi tồ vụ án số 10/QĐ, ngày 22/9/2016 nội dung Hành vi không cấu thành tội phạm cho nên quyết định không khởi tố vụ án hình sự cố ý gây thương tích. Ngày 13/01/2016 P nhập viện điều trị tại Bệnh viện đa khoa Sa Đéc đến ngày 15/01/2016 xuất viện, sau đó điều trị tại Trung tâm chấn tương chỉnh hình thành phố Hồ Chí Minh, trong thời gian điều trị bà Nguyễn Thị Thanh T là mẹ của Mai Thành N chi tiền chi phí điều trị cho Nguyễn Văn P tổng cộng là 2.529.230 đồng. Theo bản kết luận giám định pháp y về thương tích ngày 02/6/2016, tỉ lệ thương tật 16%. Tổng chi phí điều trị thương tích, tiền xe đi lại, chi phí ăn uống gia đình P yêu cầu là 5.930.000 đồng, trừ lại 250.000 đồng mẹ của N là bà T đưa dư khi điều trị tại Bệnh viện Sa Đéc, còn lại là 5.680.000 đồng; Tiền công bị mất của người chăm sóc cho P là 30 ngày trong thời gian P dưỡng bệnh tại nhà, 03 ngày nằm viện từ ngày 13/01/2016 đến ngày 15/01/2016, 06 ngày đi tái khám và giám định thương tích, tổng cộng 39 ngày (tiền công lao động thu nhập bình quân ở địa phương là 120.000 đồng/01 ngày) 39 ngày x 120.000 đồng/01 ngày = 4.680.000 đồng. Mai Thành N đồng ý bồi thường cho bà Nguyễn Lệ T, ông Nguyễn Văn D tiền điều trị thương tích, chi phí đi lại, ăn uống, tiền công bị mất của bà Nguyễn Lệ T là người chăm sóc cho P tổng cộng là 10.360.000 đồng.
Mai Thành N đồng ý bồi thường tiền tổn thất tinh thần cho Nguyễn Văn P là 10 tháng lương cơ sở theo quy định của pháp luật x 1.490.000 đồng/01 tháng là 14.900.000 đồng.
P có tiền sử tinh thần kém, không bình thường so với các trẻ em khác nhưng không có tài liệu chứng cứ chứng minh và theo bà Nguyễn Lệ T, Nguyễn Văn P trình bày tại phiên tòa trước khi P bị gãy xương đòn vai phải thì P đã nghĩ học do học không nổi. P bị bệnh phải điều trị rối loạn thần kinh hỗn hợp cảm xúc tại Bệnh viện tâm thần Trung ương 2 Biên Hòa là do thể trạng của P, không liên quan và không có tài liệu chứng cứ chứng minh của cơ quan chuyên môn là P bị bệnh rối loạn thần kinh hỗn hợp cảm xúc là do Mai Thành N làm P bị gãy xương đòn vai phải bị khủng hoảng tinh thần nên P bị bệnh rối loạn thần kinh hỗn hợp cảm xúc. Theo tài liệu thu thập tại phòng lao động thương binh xã hội huyện Lai Vung có Phiếu khám sức khỏe tâm thần ngày 08/9/2016, tờ khai đề nghị trợ giúp xã hội ngày 11/10/2016 thể hiện P đã nghĩ học do bị bệnh rối loạn thần kinh và khám sức khỏe tâm thần để xin trợ cấp, bảo trợ xã hội chứ không phải bệnh là vì thương tích do N gây ra. Mai Thành N không đồng ý bất cứ khoản yêu cầu bồi thường nào của giai đoạn hai, tổng cộng là 33.755.556 đồng.
* Theo tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa bà Nguyễn Thị Thanh T trình bày: Bà T là mẹ ruột của Mai Thành N, thống nhất như lời trình bày của đại diện theo ủy quyền của N là ông Nguyễn Ngọc Ẩ. Trong thời gian P điều trị gãy xương đòn vai phải tại Bệnh viện đa khoa Sa Đéc, Trung tâm chấn tương chỉnh hình thành phố Hồ Chí Minh, Khoa nhi Bệnh viện Cần Thơ, bà Nguyễn Thị Thanh T là mẹ của Mai Thành N chi tiền chi phí điều trị cho Nguyễn Văn P tổng cộng là 2.529.230 đồng, số tiền này là tiền của bà T, bà đã chi trả không có yêu cầu gì về số tiền này. Đối với phần N bồi thường thì do N quyết định, bà T không có ý kiến. Ngoài ra không trình bày hay yêu cầu gì thêm khác.
* Người làm chứng Lê Thành L, Trần Chí D, Lê Hoàng T, Tăng Văn K, Phùng Văn T có lời khai tại Công an: Vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 12/01/2016 tại phần đất của ông hai Thổ thuộc ấp Định Mỹ, xã Định Hòa; Nguyễn Văn P, Lê Thành L, Trần Chí D, Lê Hoàng T, Tăng Minh K đang chơi chuyền bóng thì Mai Thành N đến giật lấy trái bóng, P, L, D, T, K chạy theo giành lại nhưng không được, L đến xe của N lấy chìa khóa xe để đổi lấy trái bóng nhưng N vẫn không trả, P đi ra sau lưng N để lấy trái bóng nhưng không lấy được P, L, D chuyền chìa khóa qua lại với nhau, P tiếp tục đến phía sau lưng của N để lấy lại trái bóng nhưng vẫn không lấy được, N quay lại rượt P, P chạy nhưng không có nhìn theo sau đó thì nghe 01 cái rắc mới nhìn lại thấy P nằm trên sân cát nghiêng qua một bên, tay ôm vai, N chửi P rồi nói có gì mày qua nhà tao kiếm tao nói xong N lấy xe về, ông hai Thổ từ nhà đi qua nói gãy xương vai, lúc đó Đại chạy xe đến ông Hai Thổ kêu Đại chở P về. Chỉ có Lê Hoàng T là nhìn thấy N rượt P, thấy P quay lại nhìn N nên vấp ngã, N không có tác động làm P Ngã. Thương tích của P là do N gây ra.
* Đại diện Viện kiểm sát N dân huyện Lai Vung phát biểu quan điểm:
- Về phần thủ tục: Từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự tố tụng.
- Về phần nội dung: Về đường lối giải quyết vụ án, Đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, buộc Mai Thành N bồi thường toàn bộ thiệt hại do sức khỏe của Nguyễn Văn P bị xâm phạm giai đoạn 1 là 10.360.000 đồng các bên đương sự đã thỏa thuận, việc thỏa thuận là tự nguyện, không trái quy định pháp luật nên chấp nhận. Giai đoạn 2 là 33.755.556 đồng theo lời trình bày của bà Nguyễn Lệ T thì sau khi xảy ra gãy xương đòn phải, do P bị đau đớn nên thường xuyên khóc, mất ngủ… khủng hoảng tinh thần phải điều trị bệnh tại Bệnh viện tâm thần Trung ương 2 là phù hợp với diễn biến bệnh của em P; tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của N là ông Nguyễn Ngọc Ẩ không yêu cầu giám định tâm thần đối với P để xác định P bị gãy xương đòn vai phải có làm phát sinh rối loạn thần kinh hỗn hợp cảm xúc hay không là từ bỏ quyền phản bác của mình đối với lời trình bày của bà Th. Do đó căn cứ các hóa đơn, chứng từ khám và điều trị bệnh của P tại Bệnh viện tâm thần Trung ương 2 cho thấy yêu cầu của bà Nguyễn Lệ T và ông Nguyễn Văn D là có cơ sở chấp nhận. Đối với yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần 30 tháng lương cơ sở là 44.700.000 đồng là có căn cứ, phù hợp thực tế, đúng quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại về sức khỏe do bị đơn gây ra, đây là vụ án tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm. Các đương sự cư trú tại xã Định Hòa, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, cho nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án N dân huyện Lai Vung theo quy định tại khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về xét xử vắng mặt đối với những người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ mà vẫn vắng mặt nhưng có lời khai nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp với Điều 229 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
Theo tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và Mai Thành N thừa nhận vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 12/01/2016 tại phần đất của ông hai Thổ thuộc ấp Định Mỹ, xã Định Hòa, trong lúc rượt theo P, do P vấp té N tránh không kịp nên dẫm lên người của P làm P bị Gãy xương đòn vai phải, theo bản kết luận giám định pháp y về thương tích ngày 02/6/2016, tỉ lệ thương tật 16%. Thương tích của Nguyễn Văn P do Mai Thành N gây ra, lỗi hoàn toàn của N nên Mai Thành N đồng ý bồi thường cho bà Nguyễn Lệ T, ông Nguyễn Văn D tiền điều trị thương tích, chi phí đi lại, ăn uống là 5.680.000 đồng, tiền công bị mất của bà Nguyễn Lệ T là người chăm sóc cho P là 120.000 đồng/01 ngày x 39 ngày = 4.680.000 đồng, tổng cộng là 10.360.000 đồng, xét sự thỏa thuận này là hoàn toàn tự nguyện, đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Đối với yêu cầu buộc Mai Thành N bồi thường tiền cho Nguyễn Văn P do P bị gãy xương đòn nên bị khủng hoảng tinh thần phải điều trị rối loạn thần kinh hỗn hợp cảm xúc tại Bệnh viện tâm thần Trung ương 2 Biên Hòa, chi phí điều trị uống thuốc theo toa, tái khám tổng chi phí điều trị, tiền công người nuôi bệnh; tiền xe, chi phí ăn uống tổng cộng 33.755.556 đồng. Tòa án đã yêu cầu nguyên đơn cung cấp tài liệu chứng cứ, kết luận của cơ quan chuyên môn về nguyên N P bị bệnh có phải do N làm gãy xương đòn phải nhưng nguyên đơn không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh, không yêu cầu cơ quan chuyên môn giám định tinh thần của P và cũng không có tài liệu chứng cứ nào khác để chứng minh nguyên N Nguyễn Văn P bị rối loạn thần kinh hỗn hợp cảm xúc là vì bị gãy xương đòn phải do Mai Thành N gây ra làm P bị khủng hoảng tinh thần phải điều trị rối loạn thần kinh hỗn hợp cảm xúc tại Bệnh viện tâm thần Trung ương 2 Biên Hòa nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu Mai Thành N bồi thường tổng cộng là 33.755.556 đồng.
Nguyên đơn yêu cầu Mai Thành N bồi thường tiền tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm là 44.700.000 đồng (1.490.000 đồng x 30 tháng lương cơ sở theo quy định của nhà nước). Mai Thành N chỉ đồng ý bồi thường số tiền tương đương 10 tháng lương cơ sở, xét thực tế thương tích của P là do Mai Thành N gây ra, lỗi hoàn toàn của N, P phải điều trị thương tích bị tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm, tinh thần của P bị tổn thất do phải chịu đau đớn về thương tích do anh N gây ra, tỉ lệ thương tật 16%, ảnh hưởng đến sinh hoạt bình thường của P cho nên yêu cầu khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm là 30 tháng lương cơ sở theo quy định nhà nước phù hợp mức độ P bị tổn thất tinh thần do thương tích Mai Thành N gây ra. Nên buộc Mai Thành N phải có nghĩa vụ bồi thường tiền tổn thất tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm là 1.490.000 đồng x 30 tháng = 44.700.000 đồng là có căn cứ, phù hợp với Điều 590 Bộ luật dân sự.
Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử Công nhận sự thỏa thuận của nguyên đơn với bị đơn về tiền điều trị thương tích, chi phí đi lại, ăn uống là 5.680.000 đồng, tiền thu nhập thực tế bị mất của người nuôi bệnh là 120.000 đồng/01 ngày x 39 ngày = 4.680.000 đồng, tổng cộng là 10.360.000 đồng; Buộc Mai Thành N bồi thường tiền tổn thất tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm là 1.490.000 đồng x 30 tháng = 44.700.000 đồng. Buộc Mai Thành N bồi thường thiệt hại do sức khỏe của Nguyễn Văn P bị xâm phạm tổng cộng là 55.060.000 đồng cho Nguyễn Lệ T và Nguyễn Văn D.
Xét thấy ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với phần bồi thường giai đoạn 1 và bồi thường tổn thất tinh thần tổng cộng là 55.060.000 đồng là có căn cứ chấp nhận. Đối với phần bồi thường giai đoạn 2 là 33.755.556 đồng đại diện viện kiểm sát căn cứ lời trình bày của bà Th và P phải điều trị bệnh là phù hợp diễn biến bệnh của P nhưng không có tài liệu chứng cứ chứng minh lời trình bày của bà Th là có cơ sở để chấp nhận, đồng thời đại diện viện kiểm sát cho rằng đại diện theo ủy quyền của bị đơn không yêu cầu giám định tâm thần đối với P là từ bỏ quyền phản bác của mình đối với lời trình bày của bà Th là không có căn cứ.
Về án phí:
Do yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận một phần nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần được Tòa án chấp nhận và nguyên đơn không phải chịu án phí đối với phần không được chấp nhận là có căn cứ, phù hợp với phù hợp với điểm d khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 588, Điều 590, Điều 688 Bộ luật dân sự; khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 và khoản 4 Điều 91, Điều 92; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm d khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Nguyễn Lệ T, Nguyễn Văn D.
Công nhận sự thỏa thuận của Mai Thành N tự nguyện bồi thường tiền điều trị thương tích, tiền thu nhập thực tế bị mất của người nuôi bệnh, cho Nguyễn Lệ T, Nguyễn Văn D tổng cộng 10.360.000 đồng; Buộc Mai Thành N bồi thường tiền tổn thất tinh thần do sức khỏe của Nguyễn Văn P bị xâm phạm là 44.700.000 đồng cho Nguyễn Lệ T và Nguyễn Văn D. Tổng cộng là 55.060.000 đồng (Năm mươi lăm triệu, không trăm sáu mươi nghìn đồng).
2. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn bồi thường chi phí điều trị, uống thuốc theo toa, tái khám, tiền công người nuôi bệnh, tiền xe, chi phí ăn uống của giai đoạn hai tổng cộng là 33.755.556 đồng tại Bệnh viện tâm thần Trung ương 2 Biên Hòa do P bị khủng hoảng tinh thần phải điều trị rối loạn thần kinh hỗn hợp cảm xúc.
3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền trên, thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi bằng 50% mức lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án đến khi thi hành án xong.
4. Về tiền án phí:
Mai Thành N phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm là 2.753.000 đồng (Hai triệu, bảy trăm năm mươi ba nghìn đồng).
Nguyễn Lệ T và Nguyễn Văn D được miễn tiền án phí.
5. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 25/9/2019.
Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐT; - VKSND H.Lai Vung; - CC THA-DS H.Lai Vung; - Các đ/s; - Lưu: HS (Q), AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Huỳnh Thị Bích Huyền |