- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức C - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố, b cáo Nguyễn Đức C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 77/2018/HSST Ngày: 06/11/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Quảng;
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Lê Duẫn, bà Nguyễn Th Kim Hu .
- Thư ký phiên tòa: Ông Đ ng Khắc C ng - Là Th ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Bà Trần Th Chung - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 85/2018/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2018, theo Quy t đ nh đ a vụ án ra xét xử số 78/2018/QĐXXST-HS, ngày 23 tháng 10 năm 2018, đối với b cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đức C; sinh năm: 1993; nơi sinh: Lâm Đồng; nơi đăng ký th ng trú và c trú: Thôn X, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; văn hóa: 09/12; nghề nghiệp: Không; quốc t ch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Đức K, sinh năm 1965 và bà Trần Th H, sinh năm 1970, cả hai đang sinh sống tại Thôn X, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; b cáo là con lớn nhất trong gia đình có ba anh em; vợ, con: Ch a có; tiền án, tiền sự: Không; b cáo b bắt tạm giam từ ngày 30/7/2018, hiện đang b tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Bảo Lộc Có m t .
Bị hại: Bà Trần Th T, sinh năm 1963; trú tại: Số X Quốc lộ 20, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (Vắng m t .
Người làm chứng: Ông Trần Ngọc Q, sinh năm 1972; trú tại: Số X Quốc lộ 20, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (Vắng m t .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 gi ngày 30/7/2018, Nguyễn Đức C đ ợc đối t ợng tên L ch a rõ lai l ch chở bằng xe mô tô đi từ trung tâm thành phố Bảo Lộc đ n xã Lộc Nga để mua ma túy sử dụng. Khi cả hai đi đ n số nhà 344 Quốc lộ 20, xã Lộc Nga, thành phố Bảo Lộc thì C phát hiện trên vỉa hè có chi c xe mô tô biển kiểm soát 49V4-54XX của bà Trần Th T đang cắm chìa khóa mà không có ng i trông coi. Thấy vậy C nói với L, “Kia có chi c xe có cả chìa khóa, anh quay lại để em lấy”. Nghe C nói vậy thì L đồng ý quay xe lại để C đi vào lấy xe, khi C vừa nổ máy chạy đi thì b anh Trần Ngọc Q là em trai bà T) phát hiện đuổi theo nắm vào càng sau yên xe giữ lại. Tuy thấy anh Q tri hô, kéo xe lại nh ng C không dừng lại mà dùng chân đạp vào ng i anh Q rồi ti p tục tăng ga kéo anh Q chạy đ ợc khoảng 30m thì b té xuống đ ng. Đ ợc sự hỗ trợ của ng i dân nên anh Q đã bắt đ ợc đối t ợng giao cho Công an xã Lộc Nga xử lý, còn tên L thì chạy thoát.
Theo k t luận đ nh giá của Hội đồng đ nh giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Bảo Lộc thì chi c xe mô tô biển kiểm soát 49V4-54XX của bà Trần Th T có giá tr là 6.300.000đ. Quá trình điều tra, Cơ quan Điều tra đã trả lại chi c xe trên cho bà T, bà T không yêu cầu gì.
Tại bản Cáo trạng số 91/CT-VKSBL, ngày 16 tháng 10 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố b cáo Nguyễn Đức C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng, đề ngh áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt b cáo Nguyễn Đức C từ 12 đ n 15 tháng tù. B cáo C khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng nh Cáo trạng của Viện kiểm sát nêu, b cáo không thắc mắc, khi u nại gì về nội dung Cáo trạng, thấy đúng với tội của mình, xin đ ợc giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quy t đ nh tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an thành phố Bảo Lộc; của Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo qui đ nh của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa b cáo không có ý ki n thắc mắc khi u nại về hành vi, quy t đ nh tố tụng của Cơ quan ti n hành tố tụng, ng i ti n hành tố tụng. Hội đồng xét xử thấy rằng, các hành vi quy t đ nh tố tụng của Cơ quan ti n hành tố tụng và ng i ti n hành tố tụng đã thực hiện đúng qui đ nh của pháp luật.
Về căn cứ xác đ nh tội: Vào ngày 30/7/2018, b cáo Nguyễn Đức C đã có hành vi trộm cắp chi c xe mô tô biển kiểm soát 49V4-54XX của bà Trần Th T, tại số nhà X Quốc lộ 20, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, tr giá tài sản là 6.300.000đ. Đối chi u l i khai của b cáo, b hại, nhân chứng, vật chứng thu giữ, k t luận đ nh giá tài sản trong tố tụng hình sự, có đủ căn cứ khẳng đ nh hành vi của b cáo C đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt đ ợc qui đ nh tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015.
Xét tính chất hành vi do b cáo C thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện thái độ coi th ng kỷ c ơng pháp luật, hành vi trên không những xâm phạm đ n quyền sở hữu tài sản của công dân mà còn gây mất trật tự tr an tại đ a ph ơng, vì vậy cần lên cho b cáo một hình phạt phù hợp để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng thấy rằng, b cáo phạm tội lần đầu và thuộc tr ng hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thật thà khai báo, ngoài ra b cáo có ông ngoại tên Trần Văn H là liệt sỹ nên cần áp dụng các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 để giảm nhẹ cho b cáo một phần.
Trong vụ án này còn có đối t ợng tên L, đã chở b cáo đi trộm cắp tài sản, tuy nhiên hiện nay ch a xác minh đ ợc lai l ch của đối t ợng này, vì vậy cần tách ra, khi nào xác minh làm rõ sẽ xử lý theo pháp luật.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tạm giữ sau đó trả lại chi c xe mô tô biển kiểm soát 49V4-54XX cho bà Trần Th T, bà T không yêu cầu gì nên không đề cập đ n.
Về án phí: Buộc b cáo C phải ch u án phí hình sự sơ thẩm theo quy đ nh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố, b cáo Nguyễn Đức C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt b cáo Nguyễn Đức C 12 (Mười hai) tháng tù. Th i hạn tù tính từ ngày 30/7/2018.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Ngh quy t số 326/2016/UBTVQH14 qui đ nh về án phí, lệ phí tòa án, buộc b cáo C phải ch u 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, b cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Đối với ng i vắng m t, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đ ợc bản án ho c bản án đ ợc niêm y t theo qui đ nh của Bộ luật Tố tụng hình sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng - VKSND tỉnh Lâm Đồng - VKSND thành phố Bảo Lộc - Ng i tham gia tố tụng - Chi cục T.H.A. - L u hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Khắc Quảng |