- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vu Van H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI ––––––––––––––– Bản án số: 77/2018/HSST Ngày: 17-7-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Ngọc Loan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phi Hổ và ông Nguyễn Huy Giáp
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Phúc - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Kiều Diễm - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, Tòa án tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 84/2018/HSST, ngày 26/6/2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2018/HSST-QĐ, ngày 04/7/2018 đối với bị cáo:
Vũ Văn H, sinh năm 1996 tại: Ninh Bình.
Hộ khẩu thường trú: Xóm Đ, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình.
Nơi cư trú: Tổ 7, Kp. 7, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn T và bà Phạm Thị Đ; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: tốt; bị cáo bị bắt giam ngày 20/4/2018. (Có mặt)
- Bị hại: Anh Phạm Văn T, sinh năm 1981
Trú tại: Thôn T, ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
- Người làm chứng:
Anh Vũ Văn C, sinh năm 1980
Anh Trần Huỳnh C, sinh năm 1967
Cùng trú tại: Thôn T, ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Văn H là đối tượng nghiện ma túy, vào khoảng 09h00’, ngày 20 tháng 4 năm 2018 Vũ Văn H đi bộ từ phòng trọ của bạn gái ra khu vực thôn T, ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai, khi đi ngang qua nhà anh Phạm Văn T ở ấp A, xã B, H phát hiện thấy chiếc xe mô tô biển số 18 B1- 25150 của anh Phạm Văn T đang dựng ở lề đường phía trước cổng nhà không có người trông coi. H nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe, H lấy chiếc chìa khóa mang theo trong người cắm vào ổ khóa xe mô tô 18 B1- 25150 để nổ máy xe, khi đang thực hiện hành vi phạm tội thì bị anh T phát hiện tri hô và cùng quần chúng nhân dân bắt giữ cùng vật chứng.
Vật chứng thu giữ: một xe mô tô biển số 18 B1- 25150, nhãn hiệu Honda wave, số máy HC 12E 5637 848, số khung 121 4 DY638233; một chìa khóa xe mô tô.
Ngày 02/5/2018, cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Trảng Bom đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Vũ Văn H để điều tra. Quá trình điều tra, Vũ Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên. Theo bản kết luận định giá tài sản của hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện Trảng bom thì xe mô tô biển số 18 B1-25150 mà Vũ Văn H trộm cắp của anh T có trị giá là 8.000.000 đồng.
- Xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Trảng bom đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô 18 B1- 25150 cho anh Phạm Văn T anh T đã nhận tài sản và không có yêu cầu khác về dân sự.
Tại bản Cáo trạng số 83/CT/VKS-HS, ngày 26/6/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Xử phạt bị cáo: Từ 04 đến 06 tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: Đối với chìa khóa xe mô tô là công cụ mà H sử dụng để phạm tội đề nghị tịch thu tiêu hủy.
- Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Vào ngày 20/4/2018, tại ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Vũ Văn H đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe mô tô biển số 18 B1 – 52150 của anh Phạm Văn T trị giá 8.000.000 đồng. Hành vi bị cáo thực hiện đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ.
Xét nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo thì thấy: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội chưa đạt nên cũng cần căn cứ vào Điều 57 Bộ Luật Hình sự để quyết định hình phạt cho bị cáo.
Về biện pháp tư pháp:
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã được thu hồi trả cho người bị hại. Người bị hại không có yêu cầu gì thêm về dân sự.
Về vật chứng vụ án: 01 chiếc chìa khóa xe mô tô không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom thì thấy phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Xét tính hợp pháp của các quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì thấy đúng với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Vũ Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 57 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Vũ Văn H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/4/2018.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc chìa khóa xe máy (vật chứng hiện đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12 /7/2018).
3. Về án phí: Căn cứ điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 buộc bị cáo Vũ Văn H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, bị hại biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, người có mặt tính từ ngày tuyên án, người vắng mặt tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người bị hại; - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Trảng Bom; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Cơ quan điều tra Công an huyện Trảng Bom; - Bộ phận T.H.A hình sự; - T.H.A.H.S Công an tỉnh Đồng Nai; - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai; - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Ngọc Loan |