- Tranh chấp gì? án hình sự — "LE XUAN T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Lê Xuân T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 77/2018/HS-ST Ngày 19-9-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Hoài Dinh
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đoàn Thế Dũng
2. Ông Nguyễn Văn Trọn
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Xuân Son- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Đức – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 72/2018/HSST ngày 25 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2018/QĐXXST- HS ngày 07 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:
Lê Xuân T ; sinh năm: 1985, tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: ấp 2, xã B, huyện T, tỉnh Tây Ninh; Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 4/12; Con ông: Lê Xuân Hạnh (đã chết) và bà Hoàng Thị Hương, sinh năm 1957; Em ruột: Có 01 người; Vợ: Trần Thị Ngọc Bích, sinh năm 1988; Con: Có 03 người; Tiền sự, tiền án: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 30/4/2018 đến ngày 09/5/2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
Bị hại:
1/ Anh Hồ Trung D, sinh năm: 1994. Vắng mặt.
Địa chỉ: ấp H, xã S, huyện H, tỉnh Khánh Hòa.
Tạm trú tại: ấp B, xã Đ, huyện D, tỉnh Tây Ninh.
2/ Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1983. Vắng mặt.
Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Bình Dương.
Tạm trú tại: ấp B, xã Đ, huyện D, tỉnh Tây Ninh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Quyết T, sinh năm 1996. Vắng mặt.
Địa chỉ: ấp 2, xã B, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Tạm trú tại: ấp B, xã Đ, huyện D, tỉnh Tây Ninh.
Người làm chứng:
1/ Anh Đỗ Hoàng P, sinh năm 1981. Vắng mặt.
Địa chỉ: ấp A, xã Đ, huyện D, tỉnh Tây Ninh.
2/ Anh Phạm Văn T sinh năm 1976. Vắng mặt.
Địa chỉ: ấp B, xã Đ, huyện D, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do muốn có tiền tiêu xài, khoảng 01 giờ ngày 30/4/2018, Lê Xuân T điều khiển xe mô tô biển số: 70D1-353.46 đi tìm tài sản của người khác để trộm. Khi đến trước nhà trọ Quang Linh thuộc ấp Phước Đức A, xã Phước Đông, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, Tuấn dừng xe, đi bộ đến phòng số 21 của nhà trọ Quang Linh phát hiện không khóa cửa nên Tuấn đi vào trong phòng lén lút lấy 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 pro và 01 điện thoại di động hiệu Lenovo A6020 của anh Hồ Trung Dũng và Nguyễn Văn Phượng đang ngủ trong phòng. Tuấn mang 02 điện thoại vừa chiếm đoạt được về phòng trọ của Tuấn cất giấu. Sau đó, Tuấn tiếp tục quay lại phòng trọ của anh Dũng và anh Phượng tìm tài sản để chiếm đoạt thì bị phát hiện bắt quả tang.
Theo kết luận định giá tài sản số 39/KL-HĐ ngày 23/5/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xác định: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Pro và 01 điện thoại di động hiệu Lenovo A6020 có tổng giá trị 3.450.000 đồng.
Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng:
- 02 điện thoại di động đã trả lại cho chủ sở hữu xong; 01 đĩa CD quay lại hình ảnh Tuấn lén lút chiếm đoạt tài sản đã được đưa vào hồ sơ vụ án.
- 01 xe mô tô Yamaha, loại Exciter màu vàng – đen, biển số: 70D1-353.46, số máy: G3D4E182181, số khung: 0610FY169270, dung tích 149cm3 và 01 đồng phục trên áo có chữ “Sailun” đã chuyển giao Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Dầu tạm giữ chờ xử lý.
Về bồi thường thiệt hại: Anh Hồ Trung Dũng và anh Nguyễn Văn Phượng đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Cáo trạng số: 72/QĐ-KSĐT ngày 24-7-2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu đã truy tố bị cáo Lê Xuân T về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng Khoản 1 Điều 173, Điểm i, s Khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo mức án từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì không có tài sản. Đồng thời áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Gò Dầu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo thể hiện: khoảng 01 giờ ngày 30/4/2018, Lê Xuân T điều khiển xe mô tô biển số: 70D1-353.46 đến nhà trọ Quang Linh thuộc ấp Phước Đức A, xã Phước Đông, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh rồi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Pro và 01 điện thoại di động hiệu Lenovo A6020 của anh Hồ Trung Dũng và anh Nguyễn Văn Phượng có tổng giá trị 3.450.000 đồng thì bị bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an ở địa phương nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với lời trình bày của những người tham gia tố tụng khác, vật chứng được thu giữ. Hành vi của bị cáo đã thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm của tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Mặc dù vụ án này mang tính chất ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của bị cáo không những gây ra bất bình trong dư luận, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự ở địa phương, gây ra tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân trong việc giữ gìn và bảo vệ tài sản. Do đó, khi quyết định hình phạt cần áp dụng đối với bị cáo một mức án nghiêm mới có đủ thời gian giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như sau:
Tình tiết tăng nặng: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình được quy định tại Điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà bị cáo được hưởng.
Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù cũng không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, khi quyết định hình phạt không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà xem xét cho bị cáo được hưởng án treo cũng là phù hợp.
Do bị cáo không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1 Điều 173, Điểm i, s Khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo mức án từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì không có tài sản là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Về bồi thường thiệt hại: Anh Hồ Trung Dũng và anh Nguyễn Văn Phượng đã nhận lại tài sản bị mất, không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên cần ghi nhận.
Về xử lý vật chứng:
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Pro và 01 điện thoại di động hiệu Lenovo A6020 đã trả lại cho chủ sở hữu xong; 01 đĩa CD quay lại hình ảnh Tuấn lén lút chiếm đoạt tài sản đã được đưa vào hồ sơ vụ án, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- 01 xe mô tô Yamaha, loại Exciter màu vàng – đen, biển số: 70D1-353.46, số máy: G3D4E182181, số khung: 0610FY169270, dung tích 149cm3 bị cáo dùng làm phương tiện đi phạm tội, nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- 01 đồng phục trên áo có chữ “Sailun” bị cáo không yêu cầu nhận lại, không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.
Do Hội đồng xét xử kết luận bị cáo có tội và bị kết án. Nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Tuyên bố bị cáo Lê Xuân T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Lê Xuân T 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Xuân T cho Ủy ban nhân dân xã Trí Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Lê Xuân T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
2/ Các biện pháp tư pháp:
- Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô Yamaha, loại Exciter màu vàng – đen, biển số: 70D1-353.46, số máy: G3D4E182181, số khung: 0610FY169270, dung tích 149cm3.
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 đồng phục trên áo có chữ “Sailun”.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27 tháng 7 năm 2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Dầu)
3/ Án phí: Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
Bị cáo Lê Xuân T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4/ Án hình sự sơ thẩm xử công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng anh Dũng, anh Phượng, anh Thắng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Gò Dầu; - Sở Tư pháp tỉnh nơi bị cáo ĐKNKTT; - Công an huyện Gò Dầu (02 bản); - Công an xã, thị trấn nơi bị cáo cư trú; - CC.THADS huyện Gò Dầu; - UBND xã Trí Bình; - Bị cáo, đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đặng Hoài Dinh |