- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "VỤ ÁN LY HÔN"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Các điều 85, 89, 91 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 77/2018/HNGĐ-ST Ngày : 22 - 8 - 2018 Về việc ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG - TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Chi
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Tư
Bà Đặng Ngọc Thu
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim Giang – Thư ký Toà án nhân
dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long tham gia
phiên tòa: Không.
Ngày 22 tháng 8 năm 2018, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Vĩnh
Long, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 133/2018/TLST - HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2018, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 504/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2018, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Nguyễn Thị Tr; địa chỉ: Phường 5, thành phố V, tỉnh V
(vắng).
Bị đơn: Hồ Thanh T; địa chỉ: Phường 5, thành phố V, tỉnh V (vắng).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn ngày 21/3/2018 chị Nguyễn Thị Tr trình bày:
Chị và anh Hồ Thanh T do mai mối rồi đi đến kết hôn năm 2000 đến
năm 2002 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 5 thành phố V, quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T không chăm lo cho gia đình, không phụ giúp chị nuôi con mà thường xuyên đi nhậu về chửi bới, đánh đập chị, từ đó vợ chồng sống ly thân đến nay, vợ chồng không còn quan tâm lẫn nhau, mỗi người đều có cuộc sống riêng, con chung nay đã trưởng thành tự nuôi sống được bản thân. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên chị xin ly hôn với anh T.
Về con chung: Có 01 người con tên Hồ Hoàng H sinh ngày 17 tháng 6
năm 2000 đã trưởng thành, có nghề lái xe, nếu con muốn sống chung với ai cũng được, nếu sống với chị thì chị nuôi dưỡng, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ: Vợ chồng không có nợ ai.
Anh Hồ Thanh T đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án nhưng
không có văn bản trình bày ý kiến và cũng không đến Tòa án dự các phiên hòa giải
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Chị Tr và anh T xác lập quan hệ hôn nhân có đăng ký kết hôn theo quy
định của pháp luật vào năm 2002 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp, nay chị Tr yêu cầu ly hôn, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn thành phố Vĩnh Long nên vụ án thuộc
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long theo quy định tại các Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chị Tr có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T được triệu tập dự phiên tòa
hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 131 của Luật Hôn nhân và gia đình năm
2014 về điều khoản chuyển tiếp “Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập trước ngày luật này có hiệu lực thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập để giải quyết”. Chị Tr và anh T xác lập quan hệ hôn nhân năm 2002, thời điểm Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đang có hiệu lực pháp luật, do đó trong trường hợp này áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án.
Về hôn nhân: Trong quá trình chung sống vợ chồng chị Tr anh T phát
sinh mâu thuẫn không khắc phục được, Tòa án nhiều lần mời chị Tr và anh T đến mục đích để hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng chị Tr vẫn cương quyết xin ly hôn, về phía anh T thì anh không đến hòa giải cũng không có văn bản trình bày ý kiến mong muốn đoàn tụ với chị Tr. Điều này cho thấy hôn nhân của anh chị lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Theo Điều 89 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định về căn
cứ cho ly hôn: “Tòa án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được thì Tòa án quyết định cho ly hôn”.
Xét yêu cầu của chị Tr xin ly hôn với anh T là có căn cứ phù hợp Điều
89 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (tương ứng tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014) nên được chấp nhận.
Về con chung: Có 01 người con tên Hồ Hoàng H sinh ngày 17 tháng 6
năm 2000 đã thành niên, có khả năng tự nuôi sống bản thân nên Hội đồng xét xử không xem xét về trách nhiệm nuôi con của cha mẹ sau khi ly hôn.
Về tài sản: Đương sự chưa yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra
giải quyết.
Về nợ chung: Đương sự trình bày không có nên Hội đồng xét xử không
đặt ra giải quyết.
Về án phí sơ thẩm: Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân
sự chị Tr phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Các điều 85, 89, 91 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;
các điều 147, 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Tr được ly hôn với anh
Hồ Thanh T
2. Về con chung: Hồ Hoàng H sinh ngày 17 tháng 6 năm 2000 đã thành
niên tự nuôi sống được bản thân, nên Hội đồng xét xử không xem xét về trách nhiệm nuôi con chung của chị Tr và anh T sau khi ly hôn.
3. Về tài sản: Đương sự chưa yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra
giải quyết.
4. Về nợ: Đương sự trình bày không có nên Hội đồng xét xử không đặt
ra giải quyết.
5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Tr chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn) tiền
án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng nộp ngày 05/4/2018 biên lai thu số 0003795 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long. Chị Tr đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
(Đã ký)
Nguyễn Thị Kim Chi
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát ND Tp. Vĩnh Long; - Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long; - Chi cục thi hành án DS Tp. Vĩnh Long; - UBND phường 5, Tp. Vĩnh Long; - Đương sự; Lưu hồ sơ. |