vanban.org

Bản án 77/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Lư Thị M ly hôn với ông Nguyễn Văn L. Về con chung: Có hai con chung là Nguyễn Tấn L(nam), sinh ngày 04/3/1999 đã trưởng thành. Giao Nguyễn Thị Q(nữ), sinh ngày 07/4/2003 cho bà Lư Thị M trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con, do bà M khôn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn và nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THỦY
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2018/HNGĐ-ST
Ngày 11-12-2018
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Hương;

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Việt Thành;

Bà Trần Vĩnh Hạnh;

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Trung Hậu – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xét xử công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 298/2018/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 480/2018/QĐXX-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2018, giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Bà Lư Thị M, sinh năm 1977

Địa chỉ thường trú: phường B, quận T, thành phố C.

2.Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1976

Địa chỉ thường trú: phường B, quận T, thành phố C.

Nguyên đơn có mặt; Bị đơn vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn xin ly hôn 27/7/2018 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lư Thị M trình bày:

Bà và ông L cưới nhau năm 1998 nhưng đến ngày 09/7/2002 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, quận B, thành phố C. Ông bà chung sống hạnh phúc được một thời gian, đến năm 2011 ông L dẫn người phụ nữ khác bỏ nhà đi, từ năm 2011 đến nay một mình bà phải nuôi hai đứa con, thời gian gần đây ông L quay về mong bà tha thứ nhưng vẫn chung sống với người phụ nữ khác. Bà nhận thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông L.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, ông bà có hai con chung tên Nguyễn Tấn L(nam), sinh ngày 04/3/1999 đã trưởng thành; Nguyễn Thị Q(nữ), sinh ngày 07/4/2003. Khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi dưỡng Nguyễn Thị Q và không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn L, Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông L vẫn cố tình vắng mặt và cũng không có ý kiến phản hồi nên vụ án không hòa giải được. Do đó, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông L theo thủ tục niêm yết công khai theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Tại phiên toà hôm nay: Nguyên đơn bà M vẫn giữ nguyên ý kiến trình bày, yêu cầu nêu trên. Bị đơn ông L vắng mặt.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015. Về quan điểm giải quyết vụ án thì Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà M. Chấp nhận giao con chưa thành niên cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng, bà M không yêu cầu bị đơn ông L cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Bà M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Bà Lư Thị M khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn L có địa chỉ: đường P, phường B, quận T, thành phố C. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28 và Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.

Bị đơn ông Nguyễn Văn L được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông L cố tình vắng mặt nên Tòa án tiến hành thủ tục niêm yết công khai xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 179, Điều 227 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lư Thị M và ông Nguyễn Văn L cưới nhau năm 1998 nhưng đến ngày 09/7/2002 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân

nhân của bà M và ông L là hôn dân phường A, quận B, thành phố C. Hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận.

Cuộc sống hôn nhân giữa bà M và ông L hạnh phúc được một thời gian thì đến năm 2011 ông L đột nhiên bỏ nhà ra đi để chung sống với người phụ nữ khác. Từ thời điểm đó cho đến nay bà M một mình nuôi con. Thời gian gần đây ông L quay về gia đình mong được bà M tha thứ, tuy nhiên ông L vẫn còn quan hệ tình cảm với người phụ nữa khác, bà M không đồng ý, vợ chồng không còn hòa hợp. Tại phiên tòa bà M cho rằng cuộc sống hôn nhân của bà không hạnh phúc, bà không còn tình cảm với ông L nên đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết được ly hôn với ông L.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần triệu tập hợp lệ đối với bị đơn ông L nhưng ông L vắng mặt và không có ý kiến phản hồi gì đối với yêu cầu xin ly hôn của bà M. Điều này chứng tỏ bị đơn ông L không có thiện chí để đoàn tụ gia đình với bà M.

Từ những lý do trên cho thấy cuộc sống hôn nhân giữa bà M và ông L đã rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà M yêu cầu được ly hôn với ông L là có cơ sở, phù hợp với căn cứ cho ly hôn tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà M.

Về con chung: Trong quá trình chung sống ông bà có hai con chung tên Nguyễn Tấn L(nam), sinh ngày 04/3/1999; Nguyễn Thị Q(nữ), sinh ngày 07/4/2003. Đến nay Nguyễn Tấn L đã trưởng thành, có thể tự sống độc lập, không cần người chăm sóc nuôi dưỡng nên Tòa án không xem xét. Bà M có yêu cầu nuôi dưỡng Nguyễn Thị Q và không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.

Tại bản tự khai đề ngày 03/10/2018 của Nguyễn Thị Q ghi nhận nguyện vọng của Q là sau khi cha mẹ ly hôn được tiếp tục sống với bà M.

Hội đồng xét xử nhận thấy, từ trước đến nay bà M là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng Nguyễn Thị Q và giao con chung cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của Q, phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Đồng thời dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho ông L không ai được quyền ngăn cản.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà M không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về Tài sản chung, nợ chung: Bà M xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, do bị đơn ông L vắng mặt nên Tòa án không đặt ra giải quyết. Các đương sự có quyền khởi kiện vụ án độc lập để yêu cầu Tòa án giải quyết nếu có tranh chấp.

Về án phi sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện về ly hôn của nguyên đơn bà M

́ được Tòa án chấp nhận nên bà M phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đồng.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 179, Điều 227, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Lư Thị M ly hôn với ông Nguyễn Văn L.

2.Về con chung: Có hai con chung là Nguyễn Tấn L(nam), sinh ngày 04/3/1999 đã trưởng thành. Giao Nguyễn Thị Q(nữ), sinh ngày 07/4/2003 cho bà Lư Thị M trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con, do bà M không yêu cầu.

Ông L có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

Khi cần thiết, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

3.Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét. Các đương sự có quyền khởi kiện vụ án độc lập để yêu cầu Tòa án giải quyết nếu có tranh chấp.

4.Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Lư Thị M phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về ly hôn là 300.000(Ba trăm nghìn)đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm bà M đã nộp là 300.000(Ba trăm nghìn)đồng theo biên lai thu số 009330 ngày 27/7/2018 tại Chi cục thi hành án Dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ. Bà M đã nộp đủ án phí.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. *Nơi nhận

Cỡ chữ