vanban.org

Bản án 77/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Bác yêu cầu ly hôn của chị Huỳnh Thị Ngọc H1.

Về án phí: Chị H1 phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn; nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 02027 ngày 10/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp. Chị H1 đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Bác yêu cầu ly hôn của chị Huỳnh Thị Ngọc H1.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẤP VÒ
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 20- 12- 2017
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Võ Kim Phượng.

2. Ông Nguyễn Văn Lực.

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Pha, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 20 tháng 12 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 350/2017/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2017 về "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 191/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Ngọc H1, sinh năm 1991; đăng ký thường trú: Số 512 ấp BT, xã BTT, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp; tạm trú: phường BTT, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1990; địa chỉ: Số 512 ấp BT, xã BTT, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 30 tháng 10 năm 2017 và trong quá trình xét xử, chị Huỳnh Thị Ngọc H1 trình bày là chị H1 và anh Nguyễn Văn H2 kết hôn với nhau vào năm 2013 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã BTT, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh H2 lười lao động, thường uống rượu và sau khi uống rượu thì kiếm chuyện chửi chị H1, có lần đưa tiền chị H1 nuôi con nhưng sau đó anh H2 đòi lại 4.000.000 đồng, từ đó dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng và xa nhau từ tháng 10 năm 2017 đến nay. Nhận thấy không còn tình cảm với anh H2, nên chị H1 yêu cầu được ly hôn anh H2. Về nuôi con chung: Quá trình chung sống chị H1 và anh H2 có 01 con chung tên là Nguyễn Thị Ngọc H3, sinh ngày 10/11/2013 hiện chị H1 đang nuôi dưỡng, khi ly hôn chị H1 yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh H2 cấp dưỡng nuôi con. Về chia tài sản: Chị H1 và anh H2 không có tài sản. Về nợ chung: Không có.

Anh Nguyễn Văn H2 thống nhất với lời trình bày của chị Huỳnh Thị Ngọc H1 về thời gian kết hôn, việc đăng ký kết hôn, thời gian vợ chồng xa nhau. Tuy nhiên anh H2 cho rằng anh H2 vẫn lo làm việc để có tiền nuôi vợ con, anh H2 thừa nhận có uống rượu nhưng không có chửi chị H1, có lần anh H2 nói chị H1 đưa lại cho anh H2 2.000.000 đồng là do trong thời gian vợ chồng sống chung chị H1 thường nhắn tin với người khác nhưng giấu không để anh H2 thấy nội dung tin nhắn và khi vợ chồng xa nhau chị H1 tổ chức sinh nhật cho con cũng không cho anh H2 biết, ngoài ra vợ chồng không có mâu thuẫn gì khác. Do còn thương vợ, nên anh H2 không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị H1. Về nuôi con chung: Anh H2 thống nhất vợ chồng có 01 con chung tên là Nguyễn Thị Ngọc H3, sinh ngày 10/11/2013 như chị H1 trình bày, trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H1 thì anh H2 yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị H1 cấp dưỡng nuôi con. Tại phiên tòa, anh H2 đồng ý để chị H1 trực tiếp nuôi dưỡng con và anh H2 tự nguyện cấp dưỡng nuôi con hàng tháng mỗi tháng 2.000.000 đồng. Về chia tài sản: Chị H1 và anh H2 không có tài sản. Về nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Việc chị Huỳnh Thị Ngọc H1 ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Nguyễn Văn H2 là những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa chị H1 và anh H2 thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện, quy định tại Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do anh H1 cư trú tại ấp BT, xã BTT, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp nên Tòa án nhân dân huyện LV, tỉnh Đồng Tháp thụ lý và giải quyết vụ án dân sự trên là đúng quy định tại Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân;

Việc chị Huỳnh Thị Ngọc H1 và anh Nguyễn Văn H1 đăng ký kết hôn ngày 14/3/2013 tại Ủy ban nhân dân xã BTT, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp theo giấy chứng nhận kết hôn số 29 đã tuân thủ quy định tại khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình, nên được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Sau khi kết hôn, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau. Khoảng hơn 04 năm chung sống, tuy có những bất hòa trong cuộc sống nhưng chị H1 và anh H2 vẫn sống chung, sau đó chỉ vì vợ chồng thiếu tôn trọng nhau trong cuộc sống; ít quan tâm, chăm sóc, chia sẻ công việc của gia đình đã dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng và xa nhau từ tháng 10/2017 đến nay. Trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa, anh H2 không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị H1 mà mong muốn vợ chồng đoàn tụ gia đình để cùng nhau lo cho con chung. Xét thấy anh H2 không có hành vi bạo lực gia đình hay vi phạm nghiêm trọng tình nghĩa vợ chồng làm cho hôn nhân giữa chị H1 và anh H2 lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, do vậy việc chị H1 yêu cầu ly hôn anh H2 là chưa có căn cứ nên không được Tòa án chấp nhận, mà cần bác yêu cầu ly hôn của chị Huỳnh Thị Ngọc H1 là phù hợp khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Do bác yêu cầu ly hôn của chị H1 nên Tòa án không xem xét giải quyết về nuôi con chung, về chia tài sản giữa chị H1 và anh H2.

Về nợ chung: Không có.

Về án phí: Chị H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Bác yêu cầu ly hôn của chị Huỳnh Thị Ngọc H1.

2. Về án phí: Chị H1 phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn; nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 02027 ngày 10/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp. Chị H1 đã nộp đủ án phí.

3. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ