vanban.org

Bản án 769/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39, khoản 4 Điều 147,điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 39, khoản 4 Điều 147,điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân số…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 769/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 02/8/2023
V/v tranh chấp: “ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Chi

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lý Ngọc Mạnh

2. Ông Đoàn Văn Rỹ

- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Hồng Đào – là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8,

Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị

Vân – Kiểm sát viên

Ngày 02 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ

Chí Minh xét xử sở thẩm công khai vụ án thụ lý số: 281/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 03 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 98/2023/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Hoàng Quân, sinh năm 1959

Thường trú: 183F/31/7 Tôn Thất Thuyết, Phường 4, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Bà Trương Thị Bích Thu, sinh năm 1971

Thường trú: 7 Phan Văn Trị, Phường 2, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh

Tạm trú: 136/20 Nguyễn Thị Tần, Phường 2, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện đề ngày 06/3/2023 và Bản tự khai ngày 14/4/2023, nguyên

đơn là ông Trần Hoàng Quân trình bày:

Ông và bà Trương Thị Bích Thu tự nguyện sống chung và có đăng ký kết hôn

theo Giấy chứng nhận số 85, quyển số 01/2007 của Ủy ban nhân dân Phường 02, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. Hai bên chung sống có một người con chung tên Trần Hoàng Thắng, sinh ngày 29/12/2007. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến năm 2020 giữ hai bên bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung dẫn đến cuộc sống rất căng thẳng, hiện không còn tình cảm vợ chồng, mặc dù ông đã nhiều lần cố gắng hàn gắn để vun đắp hạnh phúc gia đình nhưng vẫn không có kết quả. Bản thân ông đã quá mệt mỏi, mục đích cuộc hôn nhân không đạt được và ông cảm thấy không thể tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân này được nữa, do đó ông yêu cầu được ly hôn với bà Trương Thị Bích Thu để ổn định cuộc sống.

- Về con chung: Ông Trần Hoàng Quân yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng

người con chung tên Trần Hoàng Thắng, sinh ngày 29/12/2007. Ông Quân không yêu cầu bà Thu cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Ông Trần Hoàng Quân tự khai ông và bà

Trương Thị Bích Thu không có tài sản chung và cũng không có thiếu nợ chung của ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà Trương Thị Bích Thu đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ

lý vụ án số 281/2023/TB-TA ngày 17/3/2023; Giấy triệu tập số 281/GTT-TA ngày 21/3/2023 để ghi nhận ý kiến về việc khởi kiện của nguyên đơn; Giấy triệu tập và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào các ngày 09/5/2023 và 09/6/2023 về việc tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 281/TB-TA ngày 09/6/2023; Giấy triệu tập tham gia phiên tòa và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:129/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/6/2023;Quyết định hoãn phiên tòa số 98/2023/QĐST-HNGĐ ngày 07/7/2023 và giấy triệu tập tham gia phiên tòa số 281/GTT-TA ngày 07/7/2023, nhưng bà Trương Thị Bích Thu vẫn không nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vắng mặt không lý do trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa hôm nay.

Tại phiên toà sơ thẩm,

Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8 phát biểu quan điểm:

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi

thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy trình tố tụng giải quyết vụ án. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của

nguyên đơn, ông Trần Hoàng Quân được ly hôn với bà Trương Thị Bích Thu. Về con chung, giao người con chung tên Trần Hoàng Thắng, sinh ngày 29/12/2007 cho ông Trần Hoàng Quân trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho bà Trương Thị Bích Thu vì ông Trần Hoàng Quân không có yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung ông Trần Hoàng Quân khai không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại

phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn là ông Trần

Hoàng Quân khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà Trương Thị Bích Thu. Theo kết quả xác minh của Công an Phường 2, Quận 8 thì bà Trương Thị Bích Thu hiện có đăng ký tạm trú tại 136/20 Nguyễn Thị Tần, Phường 2, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, do đó, đây là tranh chấp về ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa theo khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Nguyên đơn có đơn đề ngày 09/6/2023 đề nghị được vắng mặt

khi Tòa án xét xử vụ án.

Bị đơn là bà Trương Thị Bích Thu đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Giấy triệu

tập tham gia phiên tòa và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/6/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 98/2023/QĐST-HNGĐ ngày 07/7/2023 và Giấy triệu tập tham gia phiên tòa số 281/GTT-TA ngày 07/7/2023 nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về yêu cầu của đương sự:

Về quan hệ vợ chồng: Ông Trần Hoàng Quân và bà Trương Thị Bích Thu

tự nguyện sống chung và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận số 85, quyển số 01/2007 do Ủy ban nhân dân Phường 02, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh cấp, nên có căn cứ xác định quan hệ hôn nhân giữa ông Quân và bà Thu là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Theo ông Trần Hoàng Quân trình bày thì trong thời gian chung sống giữa ông

và bà Thu thường xuyên xẩy ra mâu thuẩn trầm trọng, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, hai bên không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau dẫn đến cuộc sống rất căng thẳng, hiện không còn tình cảm vợ chồng, mặc dù ông đã nhiều lần cố gắng hàn gắn để vun đắp hạnh phúc gia đình nhưng vẫn không có kết quả. Bản thân ông đã quá mệt mỏi, mục đích cuộc hôn nhân không đạt được và ông cảm thấy không thể tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân này được nữa. do đó ông yêu cầu được ly hôn với bà Trương Thị Bích Thu để ổn định cuộc sống riêng.

Ngày 22/3/2023 Toà án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh có ban

hành quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số 281/2023/QĐ-CCTLCC gửi Uỷ ban nhân dân Phường 02, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh về việc xác minh thông tin về hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, điều kiện trực tiếp nuôi con giữa ông Quân và bà Thu. Ngày 19/4/2023 Uỷ ban nhân dân Phường 02, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh có công văn phúc đáp với nội dung: « Thông tin về hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, điều kiện trực tiếp nuôi con giữa ông Quân và bà Thu Uỷ ban nhân dân Phường 02, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh chưa nghe phản ánh gì”.

Như vậy, từ thời điểm ông Quân nộp đơn ly hôn đến nay, ông Quân và bà Thu

không có khả năng hàn gắn, vợ chồng mỗi người sống một nơi, không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Xét thấy cuộc sống vợ chồng không đem lại hạnh phúc cho ông Trần Hoàng Quân, mục đích hôn nhân không đạt được, bà Trương Thị Bích Thu không đến Toà án để trình bày ý kiến và hoà giải chứng tỏ bà Thu cũng không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này. Vợ chồng không còn sự quan tâm, chia sẻ, gắn bó với nhau, do đó chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho ông Trần Hoàng Quân được ly hôn với bà Trương Thị Bích Thu.

Về con chung: Xét thấy, người con chung tên Trần Hoàng Thắng, sinh

ngày 29/12/2007 có nguyện vọng được sống cùng ông Quân, đồng thời ông Trần Hoàng Quân cũng có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng người con chung và không yêu cầu bà Thu cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Bà Trương Thị Bích Thu vắng mặt không rõ ý kiến gì về con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông Quân, giao cho ông Quân trực tiếp nuôi dưỡng người con chung tên Trần Hoàng Thắng, sinh ngày 29/12/2007. Ghi nhận việc ông Trần Hoàng Quân không yêu cầu bà Trương Thị Bích Thu cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về tài sản chung: Ông Trần Hoàng Quân xác định vợ chồng không có tài

sản chung. Bà Trương Thị Bích Thu vắng mặt không có ý kiến về vấn đề tài sản chung. Do vậy, Toà không xem xét, giải quyết phần tài sản chung.

Về nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung: Ông Trần Hoàng Quân

cam kết vợ chồng không có khoản nợ nào chung và cũng không thực hiện nghĩa vụ dân sự với ai, bà Trương Thị Bích Thu vắng mặt, không có ý kiến nên Tòa không xem xét.

Về án phí: Ông Trần Hoàng Quân thuộc trường hợp được miễn án phí

theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều

39, khoản 4 Điều 147,điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Luật phí và lệ phí số 87/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết

số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ông Trần Hoàng Quân.

1.1. Về quan hệ vợ chồng: Ông Trần Hoàng Quân được ly hôn với bà Trương

Thị Bích Thu.

1.2. Về con chung: Giao cho ông Trần Hoàng Quân được trực tiếp nuôi dưỡng

người con chung tên Trần Hoàng Thắng, sinh ngày 29/12/2007. Tạm hoãn việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho bà Trương Thị Bích Thu vì ông Trần Hoàng Quân không có yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom

con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở

người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng quyền thăm nom để cản trở hoặc

gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật

1.3. Về tài sản chung: Ông Trần Hoàng Quân xác định vợ chồng không có tài

sản chung, bà Trương Thị Bích Thu vắng mặt không có ý kiến về vấn đề tài sản chung. Do vậy, Toà án không xem xét, giải quyết phần tài sản chung.

1.4. Về nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Ông Trần Hoàng Quân cam kết vợ

chồng không có khoản nợ nào chung và cũng không thực hiện nghĩa vụ dân sự với ai, bà Trương Thị Bích Thu vắng mặt, không có ý kiến nên Tòa không xem xét giải quyết phần nợ chung.

1.5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Ông Trần Hoàng Quân thuộc trường hợp được miễn nộp tạm ứng án phí theo

quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Về quyền kháng cáo:

Ông Trần Hoàng Quân và bà Trương Thị Bích Thu vắng mặt tại phiên tòa có

quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ