vanban.org

Bản án 768/2024/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 23/07/2024 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/07/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Chấp nhận kháng cáo của Chủ tịch UBND thành phố T và chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Sửa Bản án hành chính sơ thẩm số 1602/2023/HC-ST ngày 5 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. [2] Tuyên xử: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai về áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả"
  • Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận kháng cáo của Chủ tịch UBND thành phố T và chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị định số 04/2000/NĐ-CP Về thi hành Luật sửa đổi, bổ sung…; Điều 116 Luật Tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 768/2024/HC-PT
Ngày 23 - 07 - 2024
V/v: “Khiếu kiện quyết định hành chính
trong lĩnh vực quản lý đất đai về áp dụng
biện pháp khắc phục hậu quả”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Long

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Tửu

Ông Hà Huy Cầu

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Duy Minh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Nhàn - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 86/2024/TLPT-HC ngày 26 tháng 01 năm 2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai về áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 1602/2023/HC-ST ngày 5 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2214/2024/QĐPT-HC ngày 10 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn H. Địa chỉ: A L, tổ A, khu phố E, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn H: Ông Nguyễn Văn X. Địa chỉ: A Đường A, tổ A, khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

2. Ông Bùi Văn T. Địa chỉ: A P, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

- Người bị kiện:

Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ: A T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T:

1. Ông Phan Bá T1 – Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T (có mặt).

2. Ông Dương Thành N – Công chức Địa chính – Xây dựng – Đô thị – Môi trường Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T (có mặt).

- Người kháng cáo: Người bị kiện Chủ tịch UBND thành phố T.

- Viện kiểm sát kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai, biên bản đối thoại cùng các tài liệu chứng cứ của ông Nguyễn Văn H có người đại diện theo uỷ quyền là ông Nguyễn Văn X và ông Bùi Văn T, tại phiên tòa ông X và ông T trình bày:

Nhà đất do ông Nguyễn Văn H đang sử dụng có diện tích 327,8m2, tọa lạc tại địa chỉ A đường A, tổ A, khu phố A, phường L, quận T (địa chỉ do Công an phường L tạm đặt để quản lý nhân khẩu tạm trú và thuận tiện thực hiện các giao dịch).

Đất có nguồn gốc: Do ông Lê Văn Ú tự khai phá đất hoang sử dụng từ cuối năm 1991 (diện tích khoảng 63-64,5m x 34m, có 1 nhà nhỏ khoảng 4m x 6m), khu đất có vị trí: phía Đông giáp mương nước, dài: 63m, phía Tây giáp tường rào bệnh viện, dài: 64,5m, phía Nam giáp đường đi, dài: 34m, phía Bắc giáp ao hồ, dài: 34m tọa lạc tại khu phố A, phường L, quận T.

Năm 1993, ông Ú lập giấy tay sang nhượng cho ông Lê Ngọc T2 sử dụng nhưng ông T2 cho ông Ú thuê lại 10 năm để canh tác.

Năm 2001, ông T2 được UBND huyện T yêu cầu đóng thuế nhà đất, Biên lai số: 31700, quyển: 0634, số tiền nộp 637.500 đồng, ngày nộp 18/11/2001, nội dung: Truy thu Quý 4/92: 52.500 đồng, 93-95: 621.000 đồng (414 kg).

Ngày 01/01/2002, ông T2 lập hợp đồng viết tay sang nhượng toàn bộ nhà đất cho 06 người (gồm Đinh Ngọc K, Nguyễn Xuân T3, Nguyễn Thị D, Vũ Thị H1, Nguyễn Văn H và Nguyễn Thị Mai V) do bà Vũ Thị H1 đại diện, đến ngày 02/1/2004 những người mua đất thỏa thuận giao cho ông K đại diện xây dựng, cơi nới nhà, ngày 26/8/2004 các ông bà: Kỷ, T3, D, H1, H và V tiến hành chia nhà đất và sử dụng cho đến nay.

Tuy nhiên, tháng 02/2003 thực hiện chính sách kê khai nhà đất của Nhà nước để lập Bản đồ năm 2004, ông Ú (người đang thuê đất của ông T2) đã kê khai 1.314m2 phần đất nằm ở phía sau (nay thuộc thửa 51, tờ bản đồ số 54, mục đích sử dụng: đất rau) còn phần đất 750m2 nằm liền phía trước (nay thuộc thửa 52, tờ bản đồ số 54) do ông Ú được ông T2 thông báo UBND huyện T đã yêu cầu ông T2 đóng thuế và ông T2 đã đóng thuế nên ông Ú không kê khai, do vậy trên Bản đồ tổng thể năm 2004 ghi Ủy ban nhân dân (viết tắt UBND) quản lý nhưng năm 2008 Chi cục thuế quận T đã có Thông báo yêu cầu ông T2 nộp thuế, cụ thể: mã ĐTNT: TD181933, đến nộp thuế năm 2008, cấp chương 15, diện tích 750 m2, thành tiền 1.311.000 đồng.

Năm 2004, hết thời hạn cho ông Ú thuê đất, các hộ dân tiến hành xây dựng công trình trên đất và UBND phường L đã lập Biên bản vi phạm hành chính xây dựng công trình sai phép 6 căn nhà mới (có bản sơ phác mặt bằng vi phạm).

Tuy nhiên, Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận T đã căn cứ vào Biên bản vi phạm hành chính số 28/BB-VPHC ngày 20/7/2017 (viết tắt Biên bản số 28/BB-VPHC) do UBND phường L lập để ban hành Quyết định số 4877/QĐ-KPHQ ngày 10 tháng 8 năm 2017 về “Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả” (viết tắt Quyết định số 4877/QĐ-KPHQ ngày 10/8/2017) buộc ông H phải khôi phục lại tình trạng đất trước khi vi phạm và trả lại 327,8m2 đất đã lấn chiếm.

Ông H khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 4877/QĐ-KPHQ ngày 10/8/2017 do quyết định này là trái pháp luật, vì:

-Điều 36 Nghị định 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ “Về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai ” (viết tắt là Nghị định 102/2014/NĐ-CP) quy định: Hành vi vi phạm xảy ra trước ngày Nghị định 102/2014/NĐ-CP có hiệu lực là ngày 25/12/2014 thì áp dụng Nghị định của Chính phủ tại thời điểm vi phạm hành chính để xử lý. Do đó Nghị định 102/2014/NĐ-CP không áp dụng đối với hành vi vi phạm đất đai trước ngày 25/12/2014.

-Quyết định 4877/QĐ-KPHQ quy kết ông H lấn chiếm đất là trái với tinh thần công văn số 1606/TCQLĐĐ-CKTPTQĐ ngày 01/12/2010 của T4 “V/v cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất” vì Điều 2 của công văn quy định hành vi lấn chiếm đất phải có văn bản ngăn chặn nhưng người sử dụng đất vẫn cố tình vi phạm. Ở đây ông H sử dụng từ năm 2002 và trước đó ông Ú sử dụng từ năm 1991 và ông T2 từ năm 1993 cũng không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý đất đai ban hành văn bản ngăn chặn hành vi lấn chiếm đất. Do đó, quy kết ông H lấn chiếm đất là trái với công văn số 1606/TCQLĐĐ-CKTPTQĐ ngày 01/12/2010.

-Quyết định 4877/QĐ-KPHQ ngày 10/8/2017 trái với khoản 2 Điều 64 Luật Đất Đai năm 2013 vì khoản 2 quy định: Việc thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai phải căn cứ vào văn bản, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi vi phạm về đất đai.

-Đất công ty C đang sử dụng mà UBND huyện T giao cho Huyện ủy Thủ Đ sử dụng là không đúng với Điều 21 Luật đất đai năm 1993. Việc thu hồi đất phải thực hiện bằng quyết định và do UBND Thành phố H thực hiện mới đúng thẩm quyền, do đó đất vẫn thuộc về công ty C.

-Phần đất của ông H sử dụng không nằm trong 8,0793ha đất thuộc khu trại heo cũ được UBND huyện T đã bàn giao cho Huyện ủy T, có quá trình sử dụng liên tục từ năm 1991 đến nay, không có tranh chấp. Việc UBND quận T lợi dụng sơ sót trong đăng ký đất đai của ông T2 để hủy bộ thuế, quy kết ông H lấn chiếm đất là không có căn cứ.

Người bị kiện là Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T (có yêu cầu được xét xử vắng mặt), hồ sơ vụ án thể hiện ý kiến trình bày của N1 bị kiện và Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện là ông Phan Bá T1 và Dương Thành N trình bày tại phiên tòa:

Khu đất 327,8m2 thuộc một phần các thửa đất số 50, 51, 52 tờ bản đồ số 54-theo tài liệu năm 2004, phường L, quận T.

-Nguồn gốc và quá trình sử dụng đất:

Trước năm 1975 đất do Dòng chúa cứu thế thuộc tổ chức Thiên chúa giáo sử dụng làm trại chăn nuôi heo. Sau năm 1975, Dòng chúa cứu thế tiếp tục sử dụng. Năm 1978, Nhà nước thu và giao cho Công ty chăn nuôi heo huyện C sử dụng.

Năm 1994, Công ty C giải thể giao toàn bộ khuôn viên đất đai, nhà xưởng chuồng trại và tài sản cố định cùng vốn lưu động của cơ sở trại heo cho Huyện ủy T5 quản lý sử dụng (Biên bản giao nhận cơ sở chăn nuôi heo lập ngày 05/02/1994).

Ngày 25/3/1994, UBND huyện T ban hành Quyết định số 157/QĐ-UB về việc chuyển giao Cơ sở chăn nuôi heo (thuộc Công ty C đã giải thể) cho Văn phòng T5 quản lý.

-Về thông tin của khu đất theo sổ bộ:

Từ năm 1975 khu đất thuộc xã T, huyện T quản lý, năm 1987 thuộc xã T, huyện T quản lý. Đến năm 1997 chia tách quận, khu đất thuộc phường L, quận T quản lý.

Theo tài liệu 299/TTg: Thuộc một phần thửa 28, tờ bản đồ thứ 2 (xã T) do UBND xã T đăng ký sử dụng.

Năm 1996, Huyện ủy Thủ Đức có đăng ký kê khai sử dụng đất theo chỉ thị 245/TTg ngày 22/4/1996 của Thủ tướng với diện tích 8,0793ha.

Theo tài liệu bản đồ năm 2004: Thuộc một phần các thửa đất số 50, 51, 52 tờ bản đồ số 54 do UBND phường L đăng ký.

Khu đất 327,8m2 thuộc phần diện tích 1,6ha còn lại vẫn thuộc đất trại chăn nuôi heo và được UBND huyện T quản lý trực tiếp cho đến nay.

-Diễn biến xử lý vi phạm hành chính thu hồi khu đất:

Ngày 20/7/2017, UBND phường L vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai số 28/BB-VPHC đối với ông Nguyễn Văn H. Địa chỉ thường trú : 64 L, khu phố C, phường L, quận T.

Ngày 21/7/2017, UBND phường L có Văn bản số 484/UBND “V/v đề xuất xử lý vi phạm hành chính về lĩnh vực đất đai đối với ông Nguyễn Văn H”

Ngày 10/8/2017, Chủ tịch UBND quận T ban hành Quyết định số 4877/QĐ-KPHQ “Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả” đối với ông Nguyễn Văn H, vì đã có hành vi chiếm đất phi nông nghiệp không phải là đất ở, diện tích 327,8m2 (thuộc khu đất 9,68 ha trại heo Huyện ủy cũ) do Nhà nước trực tiếp quản lý.

Đối với việc nộp thuế của ông T2, do UBND phường L thuế theo kê khai của đương sự nên sau khi phát hiện ông T2 kê khai không đúng UBND phường đã báo cáo Chi cục thuế quận T hủy bộ thuế và không hoàn lại khoản tiền thuế ông T2 đã nộp.

Ngày 17/8/2017, UBND phường L đã công bố và giao quyết định số 4877/QĐ-KPHQ cho ông H.

Về thời điểm xác định hành vi bắt đầu lấn chiếm sử dụng của ông H căn cứ theo giấy tay mua bán đất tự lập trái pháp luật để làm cơ sở xác định thời gian ông H bắt đầu sử dụng trái phép khu đất và hành vi đó lấn chiếm liên tục tiếp diễn cho đến nay. Mặt khác, UBND phường L đã cắm bảng cảnh báo đất Nhà nước quản lý và thông báo tháo dỡ các công trình xây dựng tạm, trả lại mặt bằng.

Việc Chủ tịch UBND quận T không ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với ông H mà ban hành quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả căn cứ theo quy định tại điểm c khoản 1 và khoản 2 điều 65 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 về những trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Chủ tịch UBND quận T nhận thấy đã thực hiện đúng quy trình, thủ tục đối với việc ban hành Quyết định số 4877/QĐ-KPHQ ngày 10/8/2017, đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Người làm chứng ông Đinh Ngọc K và ông Nguyễn Văn X đã có lời khai tại hồ sơ trình bày:

Ông K và ông X khẳng định ông H sử dụng đất do sang nhượng của ông Lê Ngọc T2 chứ không lấn chiếm đất. Đất có nguồn gốc sử dụng từ năm 1991 do ông Lê Văn Ú khai phá sử dụng đến năm 1993, ông Ú sang nhượng cho ông Lê Ngọc T2, ông T2 đã nộp thuế nhà đất. Sau đó, ông T2 sang nhượng cho ông Nguyễn Văn H sử dụng từ năm 2002 đến nay. Việc UBND quận T cho rằng phần đất này đã giao cho Huyện ủy Thủ Đức quản lý tại thời điểm năm 1994 là không đúng, thực tế tại thời điểm giao đất cho Huyện ủy Thủ Đức thì đất đang do ông T2 sử dụng. Nếu giao đất cho Huyện ủy thì trước khi thực hiện quyết định giao đất, UBND quận T chưa tiến hành thu hồi đất do ông T2 sử dụng. Vì vậy, quyết định giao đất đó trái với Điều 21 của Luật đất đai năm 1993 nên quyết định đó vô hiệu.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 1602/2023/HC-ST ngày 5 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, quyết định:

Căn cứ các điều 3, 30, 32, 116, 157, 158, 193, 194 và 206 Luật Tố tụng hành chính; Luật Đất đai năm 2013, Luật tổ chức chính quyền địa phương, Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ về “Quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai”; Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về “Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai”; Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về “Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất”; Nghị định 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ “Về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai ” và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H có ông Nguyễn Văn X và ông Bùi Văn T làm đại diện:

Hủy nội dung “và trả lại đất đã chiếm” tại dòng thứ 6 (từ trên xuống), trang 2 của Quyết định số 4877/QĐ-KPHQ ngày 10 tháng 8 năm 2017 “V/v áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả” của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về phần án phí, thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 19/9/2023, người bị kiện Chủ tịch UBND thành phố T kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm. Yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H và giữ nguyên Quyết định số 4877/QĐ-KPHQ ngày 10 tháng 8 năm 2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 12/09/2023, Viện trưởng VKSNDCC tại Thành phố Hồ Chí Minh có quyết định Kháng nghị số 7450/QĐ-VKS-HC ngày 19/9/2023, kháng nghị một phần Bản án hành chính số 1602/2023/HC-ST ngày 05 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm theo hướng sửa một phần bản án sơ thẩm, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người bị kiện Chủ tịch UBND thành phố T giữ nguyên nội dung kháng cáo và đại diện Viện kiểm sát cấp cao giữ nguyên nội dung kháng nghị.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện trình bày:

Về vị trí của khu đất Nguyễn Văn H khởi kiện thuộc khu 9,68 ha. Ông Lê Ngọc T2 được giao quản lý, bảo vệ khu đất nhưng lấy đất Nhà nước bán cho người khác bằng giấy tay trong đó có ông Nguyễn Văn H là vi phạm Điều 5 Luật Đất đai năm 1987, Điều 6 Luật Đất đai 1993, Điều 15 Luật Đất đai 2003, Điều 12 Luật Đất đai 2013, khoản 1 Điều 22 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014. Do đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận T xác định ông H có hành vi chiếm đất và ban hành Quyết định số 4877/QĐ-KPHQ ngày 10/8/2017 buộc ông H khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm và trả lại đất lấn chiếm là đúng quy định pháp luật. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của người bị kiện.

Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện trình bày: Ông Nguyễn Văn H nhận chuyển nhượng từ ông Lê Ngọc T2 ngày 01/01/2002. Mặc dù đất khi chuyển nhượng chưa có Giấy chứng nhận QSDĐ tuy nhiên ông T2 là người đó thuế sử dụng đất. Sau khi nhận chuyển nhượng thì ông H đã xây dựng nhà ở từ đó đến nay. Do đó Tòa sơ thẩm xét xử là có căn cứ, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ kháng cáo của người bị kiện và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm giải quyết như sau:

Về việc tuân theo pháp luật: Kể từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính.

Về nội dung: Sau khi phân tích, đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh luận tại phiên tòa. Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định ông H có quá trình sử dụng đất liên tục từ năm 2002 cho đến nay là có mâu thuẫn về người sử dụng đất. Ông H không đăng ký sử dụng phần đất này mà là UBND xã T, sau này là UBND phường L đăng ký hồ sơ quản lý khu đất. Căn cứ theo Bản đồ hiện trạng vị trí số 03/07/HAA-2008 ngày 02/01/2009 do của Công ty Trách nhiệm hữu hạn X1 và Bản đồ hiện trạng cắm mốc bàn giao ranh dự án số 75247/BĐBĐ-HĐ ngày 08/02/2010 do Trung tâm Đo đạc Bản đồ - Sở T6 cung cấp ghi nhận Thửa số 50, 51, 52, Tờ bản đồ số 54 (theo tài liệu năm 2004) là đất vườn. Như vậy phần đất ông H sử dụng là đất chiếm năm 2002 nên Chủ tịch UBND quận T ban hành Quyết định số 4877/QĐ-KPHQ ngày 10/8/2017, buộc ông H phải trả lại phần đất này là đúng quy định.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện là không có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của người bị kiện và chấp nhận kháng nghị; Sửa bản án sơ thẩm, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa; xét đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Đơn kháng cáo của Chủ tịch UBND thành phố T và Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đúng về hình thức, nội dung và nộp trong thời hạn luật định nên hợp lệ.

[1.2] Người đại diện hợp pháp của người bị kiện Ủy ban nhân dân thành phố thành phố T có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 225 Luật tố tụng hành chính.

Về nội dung:

Về nguồn gốc đất:

Trước năm 1975, khu đất 9,68 ha do Dòng chúa cứu thế thuộc tổ chức Thiên chúa giáo sử dụng làm trại chăn nuôi heo. Sau năm 1975, Dòng chúa cứu thế tiếp tục sử dụng đến năm 1980.

Tại Bản án hình sự số 269 ngày 09/9/1980 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên tịch thu toàn bộ khu đất 9,68 ha (trong đó có phần đất của ông H có diện tích 327,8m2 nêu tại Quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả số 4877/2017/QĐ-UB ngày 10/8/2017). Sau đó, Ủy ban quản lý và có đăng ký sử dụng ngày 20/7/1984 tại sổ đăng ký ruộng đất theo Chỉ thị 299/TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Ngày 25/3/1994, Ủy ban nhân dân huyện T giao toàn bộ diện tích đất trên cho Văn phòng T5 quản lý, sử dụng làm cơ sở nuôi heo. Đến năm 1998, tiếp tục chuyển giao cho Công ty X2 với tổng diện tích 9,68 ha theo Bản đồ hiện trạng vị trí số 112/ĐĐĐC-KT ngày 12/3/1998 để thực hiện dự án đầu tư khai thác khu đất cơ sở chăn nuôi heo được ghi nhận trong Báo cáo thực địa ngày 27/3/1998 của Phòng Quản lý Đô thị huyện T.

Ngày 24/12/1999, UBND Thành phố H có văn bản số 1772/VP-QLĐT chấp thuận đề nghị của Kiến trúc sư Trưởng Thành phố về hoán đổi diện tích 9,68 ha tại vị trí khác cho Công ty X2 do khu đất này được quy hoạch làm khu xử lý bùn Nhà máy nước.

Đến ngày 18/3/2001, UBND quận T có Văn bản số 679/UB giao toàn bộ khu đất khoảng 9,68 ha nêu trên cho Công ty C (nay là Công ty TNHH MTV Dịch vụ Công ích quận C). Ngày 19/6/2001 Công ty C đã ký Hợp đồng giao việc số 73/HĐ ngày 19/6/2001 với ông Lê Ngọc T2 (thời điểm đó là phó Ban điều hành khu phố A, phường L) bảo vệ khu đất không để các cá nhân hoặc tổ chức xây dựng, lấn chiếm đất. Từ ngày 29/02/2002 trở về sau công ty ký hợp đồng giao UBND phường L quản lý, bảo vệ khu đất nêu trên.

Xét kháng cáo của người bị kiện và kháng nghị của Viện kiểm sát.

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định, ông H không đăng ký sử dụng hợp pháp phần đất 327,8m2 nêu tại Quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả số 4877/2017/QĐ-UB ngày 10/8/2017, mà do UBND xã T, sau này là UBND phường L đăng ký hồ sơ quản lý khu đất. Đồng thời, căn cứ theo Bản đồ hiện trạng vị trí số 03/07/HAA-2008 ngày 02/01/2009 do của Công ty Trách nhiệm hữu hạn X1 và Bản đồ hiện trạng cắm mốc bàn giao ranh dự án số 75247/BĐBĐ-HĐ ngày 08/02/2010 do Trung tâm Đo đạc Bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố T6 ghi nhận: Thửa số 50, 51, 52, Tờ bản đồ số 54 (theo tài liệu năm 2004) là đất vườn.

Ngày 19/6/2001 Công ty C đã ký Hợp đồng giao việc số 73/HĐ ngày 19/6/2001 với ông Lê Ngọc T2 (thời điểm đó là phó Ban điều hành khu phố A, phường L) bảo vệ khu đất không để các cá nhân hoặc tổ chức xây dựng, lấn chiếm đất. Tuy nhiên ông T2 đã ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông H vào ngày 01/01/2002.

Như vậy phần đất ông H sử dụng (do ông H nhận chuyển nhượng bằng giấy tay từ ông T2 thực chất là phần đất do Nhà nước quản lý) từ năm 2002 là có hành vi chiếm đất nên Chủ tịch UBND quận T ban hành Quyết định số 4877/QĐ-KPHQ ngày 10/8/2017 “Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả” đối với hành vi chiếm đất phi nông nghiệp, buộc ông Nguyễn Văn H phải trả lại phần đất này là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

Tòa cấp sơ thẩm cho rằng, ông H có quá trình sử dụng đất trên liên tục từ năm 2002 cho đến nay, nhưng lại nhận định Chi cục Thuế quận T đã có thông báo yêu cầu ông T2 nộp thuế năm 2008 cho phần đất trên và đến ngày 22/02/2008 Chi cục Thuế quận T đã có Văn bản số 415/CCT-NV xác nhận đã xóa bộ thuế từ năm 2008 trở về trước kèm theo danh sách có tên ông Lê Ngọc T2 (số thứ tự 55) với lý do ông T2 kê khai đóng thuế vào khu đất công, là có mâu thuẫn về người sử dụng đất.

Ngoài ra, vụ án hành chính là xem xét tính hợp pháp và tính có căn cứ đối với Quyết định số 4877/QĐ-KPHQ ngày 10/8/2017 của Chủ tịch UBND quận T về “Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả” đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm nhận định phần đất trên đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được bồi thường hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là không đúng nội dung về đối tượng giải quyết.

Từ những nhận định trên, xét yêu cầu kháng cáo của người bị kiện là Chủ tịch UBND thành phố T và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm và bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện ông Nguyễn Văn H là có căn cứ chấp nhận.

Trường hợp giữa ông H, ông T2 nếu có phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án khác khi các bên có yêu cầu và theo quy định pháp luật.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát cấp cao tham gia phiên tòa phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử.

Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên người bị kiện là Chủ tịch UBND thành phố T không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm và án phí hành chính phúc thẩm.

Người khởi kiện là ông Nguyễn Văn H phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính.

[1] Chấp nhận kháng cáo của Chủ tịch UBND thành phố T và chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Sửa Bản án hành chính sơ thẩm số 1602/2023/HC-ST ngày 5 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ các điều 3, 30, 32, 116, 157, 158, 193, 194 và 206 Luật Tố tụng hành chính; Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2013, Luật tổ chức chính quyền địa phương, Nghị định số 04/2000/NĐ-CP ngày 11/02/2000 của Chính phủ về thi hành luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật Đất đai năm 1993 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[2] Tuyên xử:

Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H về việc:

Hủy nội dung “và trả lại đất đã chiếm” tại dòng thứ 6 (từ trên xuống), trang 2 của Quyết định số 4877/QĐ-KPHQ ngày 10 tháng 8 năm 2017 “V/v áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả” của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh).

[3] Về án phí:

[3.1] Án phí hành chính sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0047585 ngày 01/9/2017 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

[3.2] Án phí hành chính phúc thẩm: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh không phải chịu. Hoàn trả lại cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0002425 ngày 04/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ