vanban.org

Bản án 767/2022/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 01/06/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của ông Huỳnh Hiền N về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Huỳnh Thị Phương N3 và bà Huỳnh Thị Phương T là người đã chết:

Tuyên bố bà Huỳnh Thị Phương N3, sinh năm 1968 và bà Huỳnh Thị Phương T, sinh năm 1969, nơi cư trú cuối cùng: 68/146D đường Trần Quang Khải, phường Trần Quang Khải (nay là phường Z), Quận W, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết. Thời điểm bà Huỳnh Thị Phương N3 và bà Huỳnh Thị Phương T chết được xác địn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Huỳnh Hiền Nhân - Huỳnh Thị Phương Thảo, Huỳnh Thị Phương Nhơn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Huỳnh Hiền N về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Huỳnh Thị Phương N3 và bà Huỳnh Thị Phương T là người đã chết:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 767/2022/QĐDS-ST
Ngày: 01-6-2022
V/v: “Yêu cầu tuyên bố một
người là đã chết”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Chủ tọa phiên họp: Ông Đỗ Giang – Thẩm phán.

Thư ký phiên họp: Bà Phan Tâm Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Võ Phạm Phương Hạnh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 01 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 116/2021/TLST-VDS ngày 15 tháng 3 năm 2021 về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số 1916/2022/QĐST-VDS ngày 16 tháng 5 năm 2022 giữa:

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Ông Huỳnh Hiền N, sinh năm 1973 (xin vắng mặt)

Trú tại: phường Z, Quận W, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của ông N:

1/ Bà Lê Trần Song K, sinh năm 1995 (xin vắng mặt)

2/ Bà Trần Thị Q, sinh năm 1993 (xin vắng mặt)

Cùng địa chỉ liên lạc: Phường 12, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Giấy ủy quyền ngày 23/02/2021)

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

2.1 Bà Huỳnh Thị Phương M, sinh năm 1967 (xin vắng mặt)

2.2 Bà Huỳnh Thị Phương O, sinh năm 1975 (xin vắng mặt)

2.3 Bà Huỳnh Thị Phương Y, sinh năm 1978 (xin vắng mặt)

Cùng trú tại: phường Z, Quận W, Thành phố Hồ Chí Minh.

2.4 Bà Ngụy Kim P, sinh năm 1942

2.5 Bà Huỳnh Thị Phương N1, sinh năm 1962

2.6 Bà Huỳnh Thị Phương N2, sinh năm 1965

Cùng cư trú: 8 Z, 31860 Z1, France.

2.7 Ông Huỳnh Hiền D, sinh năm 1973

Cư trú: 4 Z2, 69600 Z3, France.

Người đại diện hợp pháp của bà P, bà N1, bà N2 và ông D:

Ông Huỳnh Hiền N, sinh năm 1973 (xin vắng mặt)

- 1 -

Trú tại: phường Z, Quận W, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo các giấy ủy quyền lập cùng ngày 11/4/2022)

3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là đã chết đối với bà Huỳnh Thị Phương T, sinh năm 1969 và bà Huỳnh Thị Phương N3, sinh năm 1968. Nơi cư trú cuối cùng: phường Z, Quận W, Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Ông Huỳnh Hiền N là em ruột của bà Huỳnh Thị Phương T và bà Huỳnh Thị Phương N3, nên căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 391 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 thì ông N được quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố bà T và bà N3 là đã chết, việc dân sự được xác định là “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết”. Việc dân sự có đương sự đang cư trú tại nước ngoài là bà Ngụy Kim P, bà Huỳnh Thị Phương N1, bà Huỳnh Thị Phương N2 và ông Huỳnh Hiền D, do đó căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 27, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Bà Trần Thị Q, bà Lê Trần Song K là người đại diện hợp pháp của người yêu cầu ông Huỳnh Hiền N; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngụy Kim P, bà Huỳnh Thị Phương N1, bà Huỳnh Thị Phương N2 và ông Huỳnh Hiền D có ông Huỳnh Hiền N là người đại diện hợp pháp và bà Huỳnh Thị Phương M, bà Huỳnh Thị Phương O, bà Huỳnh Thị Phương Y cùng có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 227, 228, 361 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định mở phiên họp chấp nhận vắng mặt đương sự do đã được ủy quyền hợp lệ và có lý do chính đáng.

Về nội dung:

Theo lời trình bày của các đương sự:

Người yêu cầu ông Huỳnh Hiền N có người đại diện hợp pháp là bà Trần Thị Q, bà Lê Trần Song K trình bày:

Cha mẹ ruột của ông N là ông Huỳnh B, chết năm 2003 và bà Ngụy Kim P, sinh năm 1942. Ông B và bà P chung sống có 09 người con chung là: Bà Huỳnh Thị Phương M, bà Huỳnh Thị Phương O, bà Huỳnh Thị Phương Y, bà Huỳnh Thị Phương N1, bà Huỳnh Thị Phương N2, ông Huỳnh Hiền D, ông Huỳnh Hiền N, bà Huỳnh Thị Phương T, bà Huỳnh Thị Phương N3, trước đây cùng đăng ký thường trú tại số 68/146D đường Trần Quang Khải, phường Z, Quận W, Thành phố Hồ Chí Minh. Từ năm 1975, không rõ lý do gì bà Huỳnh Thị Phương N3, bà Huỳnh Thị Phương T tự ý bỏ nhà đi không thông báo cho gia đình biết và hoàn toàn mất liên lạc từ đó cho tới nay. Bà Huỳnh Thị Phương N3 và bà Huỳnh Thị Phương T có tên trong Tờ khai gia đình do chế độ cũ cấp ngày 05/9/1974 nhưng đã bị gạch tên và trong Giấy chứng nhận đăng ký nhân khẩu thường trú trong hộ số 115039 do Công an Quận W, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/10/1976 thì không có tên bà N3 và bà T nữa.

Bà N3, bà T bỏ đi khi còn nhỏ, không có tài sản để lại, không nợ ai, sống độc thân. Nay, gia đình tiến hành thủ tục kê khai tài sản của ông Huỳnh B nên ông Huỳnh Hiền N yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là đã chết đối với Bà Huỳnh Thị Phương N3 – sinh năm 1968 và bà Huỳnh Thị Phương T – sinh năm 1969, cùng nơi cư trú cuối cùng: phường Z, Quận W, Thành phố Hồ Chí Minh.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Huỳnh Thị Phương M, bà Huỳnh Thị Phương O, bà Huỳnh Thị Phương Y thống nhất ý kiến của ông N và có đơn xin xét xử vắng mặt; Ông Huỳnh Hiền D, bà Ngụy Kim P, bà Huỳnh Thị Phương N1, bà Huỳnh Thị Phương N2 có ông Huỳnh Hiền N là người đại diện hợp pháp thống nhất với yêu cầu của ông N và hai người đại diện hợp pháp của ông N trình bày, đề nghị Tòa án tuyên bố bà Huỳnh Thị Phương N3 và bà Huỳnh Thị Phương T là đã chết.

Ngày 28/6/2021, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định Thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết số 6717/QĐ-DS và Thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết số 6718/TB-TA. Theo đó, ông Huỳnh Hiền N đã liên hệ Báo Lao Động để đăng thông tin tìm kiếm bà Huỳnh Thị Phương N3 và bà Huỳnh Thị Phương T trong 03 số báo liên tiếp ngày 02, 03 và 04 tháng 11 năm 2021; Đồng thời đăng tin phát sóng liên tiếp 3 ngày 08, 09 và 10 tháng 11 năm 2021 trên Đài Tiếng nói Việt Nam nhắn tìm bà Huỳnh Thị Phương N3 và bà Huỳnh Thị Phương T. Nhưng cho đến nay, thời hạn thông báo đã kết thúc, gia đình vẫn không có tin tức xác thực về bà Huỳnh Thị Phương N3 và bà Huỳnh Thị Phương T.

Theo kết quả xác minh của Công an Quận W, Thành phố Hồ Chí Minh thì Bà Huỳnh Thị Phương N3, sinh năm 1968 và bà Huỳnh Thị Phương T, sinh năm 1969 có tên trong tờ khai gia đình ngày 05/9/1974 nhưng đã bị gạch tên, không ghi rõ lý do gạch và tại Giấy chứng nhận đăng ký nhân khẩu thường trú trong hộ số 115039 do Công an Quận W, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/10/1976 không còn ghi tên nhân khẩu thường trú là bà Huỳnh Thị Phương N3 và bà Huỳnh Thị Phương T.

Trước thời điểm bị xóa tên nhân khẩu bà Huỳnh Thị Phương N3, sinh năm 1968 và bà Huỳnh Thị Phương T sinh năm 1969 có cha đẻ là ông Huỳnh B sinh năm 1937, địa chỉ cư trú 68/146D đường Trần Quang Khải, phường Trần Quang Khải (nay là phường Z), Quận W, Thành phố Hồ Chí Minh, đến ngày 10/04/2003 bị xóa khẩu, lý do chết; Mẹ đẻ là bà Ngụy Kim P, sinh năm 1942, địa chỉ cư trú 68/146D đường Trần Quang Khải, phường Trần Quang Khải (nay là phường Z), Quận W, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong hồ sơ không thể hiện chồng và con của bà Huỳnh Thị Phương N3 và bà Huỳnh Thị Phương T. Ngoài ra, bà Huỳnh Thị Phương N3 và bà Huỳnh Thị Phương T có 07 anh chị em là: chị Huỳnh Thị Phương M, sinh năm 1967; chị Huỳnh Thị Phương N1, sinh năm 1962; chị Huỳnh Thị Phương N2, sinh năm 1965; em Huỳnh Hiền D, sinh năm 1973; em Huỳnh Hiền N, sinh năm 1975; em Huỳnh Thị Phương O, sinh năm 1975 và em Huỳnh Thị Phương Y, sinh năm 1978.

Từ những nhận định trên, có cơ sở để xác định việc ông Huỳnh Hiền N yêu cầu tuyên bố một người là đã chết đối với bà Huỳnh Thị Phương T, sinh năm 1969 và bà Huỳnh Thị Phương N3, sinh năm 1968, nơi cư trú cuối cùng: 68/146D đường Trần Quang Khải, phường Trần Quang Khải (nay là phường Z), Quận W, Thành phố Hồ Chí Minh là có cơ sở pháp lý để được xem xét chấp nhận.

Về việc xác định thời điểm chết của bà Huỳnh Thị Phương N3 và bà Huỳnh Thị Phương T:

Theo lời trình bày của các đương sự thì bà Huỳnh Thị Phương N3 và Huỳnh Thị Phương T đã bỏ nhà đi từ năm 1975. Căn cứ xác nhận của Công an Quận W, Thành phố Hồ Chí Minh đề ngày 24/2/2021 thì bà Huỳnh Thị Phương N3 và bà Huỳnh Thị Phương T bị xóa tên trên Tờ khai gia đình ngày 05/9/1974. Như vậy, có căn cứ xác định bà Huỳnh Thị Phương N3 và bà Huỳnh Thị Phương T biệt tích từ năm 1975 cho đến nay và không có tin tức xác thực là còn sống. Do không xác định được cụ thể ngày biệt tích của bà Huỳnh Thị Phương N3 và bà Huỳnh Thị Phương T nên căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 68 và khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự 2015, Tòa án xác định ngày chết của bà Huỳnh Thị Phương N3 và bà Huỳnh Thị Phương T là ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng của 05 năm kế tiếp tức là ngày 01 tháng 01 năm 1981.

Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết.

Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Xét thấy từ những căn cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp. Tòa án có cơ sở chấp nhận yêu cầu của ông Huỳnh Hiền N về việc tuyên bố bà Huỳnh Thị Phương N3 và bà Huỳnh Thị Phương T đã chết.

Lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Huỳnh Hiền N phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự là 600.000 (Sáu trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 4 Điều 27, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 361, Điều 366, Điều 371, Điều 372, Điều 391, Điều 393 và Điều 394 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 68, Điều 71, Điều72 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu của ông Huỳnh Hiền N về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Huỳnh Thị Phương N3 và bà Huỳnh Thị Phương T là người đã chết:

Tuyên bố bà Huỳnh Thị Phương N3, sinh năm 1968 và bà Huỳnh Thị Phương T, sinh năm 1969, nơi cư trú cuối cùng: 68/146D đường Trần Quang Khải, phường Trần Quang Khải (nay là phường Z), Quận W, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết. Thời điểm bà Huỳnh Thị Phương N3 và bà Huỳnh Thị Phương T chết được xác định là ngày 01 tháng 01 năm 1981.

2. Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết.

Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

3. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Huỳnh Hiền N phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự là 600.000 (Sáu trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 600.000 (Sáu trăm nghìn) đồng ông N đã nộp theo 02 Biên lai thu tiền số AA/2019/0093730 và AA/2019/0093731 ngày 08/03/2021 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh (mỗi biên lai 300.000 đồng).

4. Các đương sự vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được thông báo, niêm yết. Viện Kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ