vanban.org

Bản án 762/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 762 /2020/HNGĐ-ST
Ngày: 14/9/2020
V/v “ Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Thu Hiền

- Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Lê Đình Tiến

2/ Bà Nguyễn Thị Phượng Quyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đài Trang – Thư ký Tòa án nhân dân quận

Tân Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình: Bà Võ Ngọc Liên Hương -

Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 9 năm 2020 tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm

công khai vụ án thụ lý số 473/2020/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2020 về việc “Ly

hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 204/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng

8 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 136/2020/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 8

năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị Ngọc A– sinh năm 1982; Địa chỉ thường trú: đường

X, phường Y, quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ liên lạc: đường N, phường M,

quận J, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).

2. Bị đơn: Ông Phan Đình H– sinh năm 1973; cư trú tại: đường X, phường Y, quận

Z, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 29/5/2020 và quá trình tố tụng nguyên đơn, bà

Phan Thị Ngọc A trình bày: Bà và ông Phan Đình Htự nguyện chung sống từ năm 2004, có

đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 2, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh

theo Giấy chứng nhận kết hôn số 91/2004, quyển số I/P2 cấp ngày 06/7/2004. Sau khi kết

hôn, vợ chồng cư ngụ tại địa chỉ: đường X, phường Y, quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh.

Chung sống một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông H không có trách

nhiệm với vợ con, thường đi chơi gây nợ nần, bà đã nhiều lần trả nợ thay. Trong quá trình

ly thân ông H đến nhà quậy phá, đánh đập bà gây thương tích và đã bị Công an Phường 2,

quận Tân Bình xử phạt hành chính về hành vi đánh đập gây thương tích cho thành viên

trong gia đình. Nay bà xác định không còn tình cảm với ông H, hôn nhân không có khả

năng hàn gắn nên yêu cầu ly hôn để ổn định cuộc sống.

Về con chung: có 02 con tên Phan H1, sinh ngày: 26/04/2005 và Phan Hoàng N1,

sinh ngày 11/10/2006. Hiên nay cả hai con đều đang ở với bà. Ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ H1 và trẻ N1, không yêu cầu ông Hcấp dưỡng cho con. Hiện nay bà làm nghể buôn bán tự do có thu nhập khoảng 15.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Ánh khai không có.

Tại phiên tòa hôm nay:

Nguyên đơn bà Phan Thị Ngọc A vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn. Về con chung bà

yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Phan H1, sinh ngày: 26/04/2005 và Phan Hoàng N1, sinh ngày 11/10/2006. Hiên nay cả hai con đều đang ở với bà. Ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ H1 và trẻ N1, không yêu cầu ông H cấp dưỡng cho con. Bà làm nghể buôn bán tự do có thu nhập khoảng 15.000.000 đồng/tháng. Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Bị đơn ông Phan Đình H vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và Hội

đồng xét xử, những người tham gia tố tụng từ khi vụ án được thụ lý cũng như tại phiên Tòa hôm nay là đúng theo quy định pháp luật.

Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng: Không có.

Về nội dung: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và

căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bà Phan Thị Ngọc A khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Phan Đình H có

nơi cư trú tại quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Quá trình giải quyết, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn đến tòa để tham gia phiên

họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn đều vắng mặt không có lý do. Ngày 26/8/2020, Tòa án triệu tập hợp lệ các đương sự đến để tham gia xét xử nhưng bị đơn vắng mặt nên Tòa án đã ra quyết định hoãn phiên tòa đồng thời thông báo cho các đương sự sẽ mở lại phiên tòa vào ngày 14/9/2020 nhưng bị đơn vẫn không đến tham gia phiên tòa mà không có lý do. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 207; khoản 1, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án lập biên bản ghi nhận về việc không tiến hành hòa giải được và tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số số 91/2004, quyển số I/P2 do

Ủy ban nhân dân Phường 2, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 06/7/2004 thể hiện hôn nhân giữa bà Phan Thị Ngọc A và ông Phan Đình H là hợp pháp.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Bà A yêu cầu ly hôn với ông H. Hội đồng xét xử xét

thấy vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc,

giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhằm tạo dựng

hạnh phúc gia đình nhưng trong cuộc sống vợ chồng giữa bà A và ông H phát sinh mâu

thuẫn mà theo bà A trình bày là do ông H không có trách nhiệm với vợ con, thường đi

chơi gây nợ nần, bà đã nhiều lần trả nợ thay. Trong quá trình ly thân ông H đến nhà quậy

phá, đánh đập bà gây thương tích và đã bị Công an Phường 2, quận Tân Bình xử phạt

hành chính về hành vi đánh đập gây thương tích cho thành viên trong gia đình. Điều này

cũng phù hợp với kết quả xác minh của Tòa án tại công văn số 364/UBND ngày

29/7/2020 của Ủy ban nhân dân Phường 2, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại phiên tòa hôm nay cũng như trong toàn bộ quá trình Tòa án thụ lý giải quyết

vụ án, ông H đều không có mặt để tham gia phiên tòa, trình bày ý kiến cũng như quan

điểm về vụ án. Qua đó cũng đã chứng minh rằng ông không mong muốn hàn gắn tình

cảm vợ chồng. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình

cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không còn khả năng đoàn

tụ nên yêu cầu chấm dứt quan hệ hôn nhân của bà Ánh là có cơ sở, phù hợp với pháp luật

và thực tế để các bên ổn định đời sống.

Về con chung: Bà A, ông H có 02 con tên Phan H1, sinh ngày: 26/04/2005

và Phan H1 Nhân, sinh ngày 11/10/2006 hiện đang sống chung với bà A. Bà A yêu cầu

được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Xét việc trẻ H1 và trẻ N1 đang sống với mẹ, lại

có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy để đảm bảo sự phát triển ổn định của trẻ, Hội

đồng xét xử chấp nhận giao trẻ H1 và trẻ N1 cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự

tự nguyện của bà A không yêu cầu ông H cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung: Bà A khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét

giải quyết.

Về nợ chung: Bà A khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải

quyết.

Về án phí: Bà A phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;

khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 207; khoản 1, khoản 2 Điều 227; Điều 271; khoản 1

Điều 273; khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87 của Luật Hôn nhân và Gia

đình năm 2014;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (Đã sửa đổi, bổ sung năm 2014);

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Ngọc A về việc “Ly hôn”.

2. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị Ngọc A được ly hôn ông Phan Đình H.

3. Về con chung: Bà A và ông H có 02 con tên Phan H1, sinh ngày: 26/04/2005

và Phan H1 Nhân, sinh ngày 11/10/2006. Giao trẻ Hoàng và trẻ Nhân cho bà Phan Thị

Ngọc A trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng cho con cho ông H do bà A

không yêu cầu.

Quyền thăm nom chăm sóc con chung và các quyền, lợi ích chính đáng liên quan

đến việc nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con được pháp luật ghi nhận và bảo vệ tại các Điều 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay

đổi.

Ông H được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Bà A cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực

tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên hoặc cá nhân tổ chức

theo qui định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Bà A khai không có.

5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) do bà

Phan Thị Ngọc A nộp nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu số 0016449 ngày 10/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình. Bà A đã nộp đủ án phí.

6. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên

án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án. Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị theo luật định.

7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6 ; 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ