vanban.org

Bản án 762/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39, khoản 4 Điều 147, Điều 238, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Quỳnh N. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 39, khoản 4 Điều 147, Điều 238, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 762/2019/HNGĐ – ST
Ngày: 26/11/2019
V/v “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Đức Anh

Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Ngọc Thông

2. Bà Nguyễn Thị Thu Cúc

Thư ký Tòa án: Bà Trà Thị Thúy Diễm - thư ký Tòa án nhân dân Quận 10

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: Bà Mạnh Thị Tú Uyên - Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 11 năm 2019 tại Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ

Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 473/2019/TLST- HNGĐ

ngày 31 tháng 7 năm 2019, về “Ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 270/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày

16 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên toà số: 187/2019/QĐST-

HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn : Bà Trần Thị Quỳnh N– sinh năm 1984 (xin vắng mặt)

Địa chỉ : 6/16 đường P, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh

Bị đơn: Ông Giang Lư Thành B – sinh năm 1981 (vắng mặt)

Địa chỉ: 330/14 đường L, Phường M, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 16/7/2019 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên

đơn là bà Trần Thị Quỳnh N trình bày:

Bà Trần Thị Quỳnh N và ông Giang Lư Thành B sống chung từ năm 2012,

có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 89 Quyển số 1

ngày 14/9/2012 tại Ủy ban nhân dân Phường 1, Quận 10, Thành phố Hồ Chí

Minh.

Bà N, ông B có một người con chung tên Giang Lư Khánh T (nữ) – sinh

ngày 27/02/2014.

Cuộc sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do tính tình và

cách sống không hòa hợp. Ông B không chăm lo cuộc sống gia đình, sau nhiều lần hòa giải, hàn gắn nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Vợ chồng không có hạnh phúc, không thể chung sống được nữa nên bà N yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Giang Lư Thành B.

Trường hợp ly hôn:

- Về con chung: Bà N nhận nuôi con chung Giang Lư Khánh T và không

yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà N, ông B không có tài sản chung.

- Về nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung: Bà N xác định vợ

chồng không có khoản nợ nào chung và cũng không thực hiện nghĩa vụ dân sự với ai.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý

vụ án và triệu tập hợp lệ bị đơn là ông Giang Lư Thành B đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt, đồng thời nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải; Do đó, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn và không tiến hành hòa giải được.

* Tại phiên tòa:

- Chủ tọa phiên tòa công bố: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt,

bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do.

Chủ tọa công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ

sơ vụ án. Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu:

Về thủ tục tố tụng:

Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa

hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy trình tố tụng giải quyết vụ án. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia các buổi làm việc, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải là đã tự từ bỏ quyền trình bày và cung cấp chứng cứ của mình.

Về nội dung vụ án:

Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nhận thấy có cơ sở để chấp

nhận yêu cầu của nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho bà N được ly hôn với ông B; giao con chung tên Giang Lư Khánh T (nữ) – sinh ngày 27/02/2014 cho bà N nuôi dưỡng.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền của Tòa án: Xét đơn khởi kiện của bà Trần Thị Quỳnh

N, xác định đây là vụ án dân sự về việc “Ly hôn”. Bị đơn cư trú tại Quận 10,

Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

nhân dân Quận 10 theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35,

điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn: Tòa án đã tống đạt Quyết định đưa

vụ án ra xét xử và triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ hai cho ông Giang Lư

Thành B nhưng ông B vắng mặt. Xét thấy việc ông B vắng mặt tại phiên toà lần

thứ hai không phải vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, do đó

quyết định tiến hành xét xử vắng mặt ông Giang Lư Thành B theo qui định tại

Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét các yêu cầu của nguyên đơn:

- Về quan hệ hôn nhân:

Bà Trần Thị Quỳnh N và ông Giang Lư Thành B chung sống từ năm

2012, có đăng ký kết hôn đúng quy định nên hôn nhân của họ là hợp pháp.

Theo bà N thì nguyên nhân vợ chồng phát sinh mâu thuẫn là do tính tình

và cách sống không hòa hợp. Thời gian đã lâu đến nay không còn tình cảm,

không thể hàn gắn nên bà N yêu cầu giải quyết ly hôn với ông B. Xét thấy cuộc

sống chung không đem lại hạnh phúc cho bà N, mục đích hôn nhân không đạt

được, ông B không đến Tòa án để hòa giải chứng tỏ ông B cũng không còn quan

tâm đến cuộc sống chung. Vợ chồng không có sự quan tâm chia sẻ gắn bó lẫn

nhau, do đó Hội đồng xét xử thống nhất quan điểm của đại diện Viện kiểm sát

nhân dân Quận 10 là chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà Như được ly

hôn với ông B.

- Về con chung: Bà N có yêu cầu được nuôi con chung tên Giang Lư

Khánh T (nữ) – sinh ngày 27/02/2014 ; Xét thấy, trẻ T còn nhỏ cần được sự

chăm sóc của mẹ và Hội đồng xét xử xét thấy bà N có đủ khả năng nuôi con nên

chấp nhận giao người con chung là trẻ T cho bà N nuôi dưỡng. Ghi nhận việc bà

N không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà N khai bà và ông B không có tài sản chung nên

không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung: Bà N xác định bà và

ông B không có khoản nợ nào chung và cũng không thực hiện nghĩa vụ dân sự

với ai nên không xét.

Về án phí: Bà Trần Thị Quỳnh N chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là

300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều

39, khoản 4 Điều 147, Điều 238, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110,

Điều 116, Điều 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy

ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Căn cứ Luật thi hành án dân sự;

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Quỳnh N.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Quỳnh N được ly hôn với ông

Giang Lư Thành B.

- Về con chung:

Giao người con chung con chung tên Giang Lư Khánh T (nữ) – sinh ngày

27/02/2014 cho bà Trần Thị Quỳnh N trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho ông Giang Lư Thành B vì bà N không có yêu cầu.

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn;

nghĩa vụ, quyền của cha mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; nghĩa vụ, quyền của cha mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng hoặc phương thức cấp dưỡng nuôi con theo qui định tại các Điều 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

- Về tài sản chung: Bà Trần Thị Quỳnh N khai không có, không yêu cầu

giải quyết nên Tòa án không xét.

- Về nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung: Bà Trần Thị Quỳnh N

xác định vợ chồng không có khoản nợ nào chung và cũng không thực hiện nghĩa vụ dân sự với ai.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Quỳnh N chịu án phí dân sự sơ

thẩm số tiền là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số: AA/2018/0017618 ngày 24/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 , Thành phố Hồ Chí Minh. Bà N đã nộp đủ tiền án phí.

Bà Trần Thị Quỳnh N, ông Giang Lư Thành B có quyền kháng cáo bản án

trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b

và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy

định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ