vanban.org

Bản án 76

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Trần Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Áp dụng: điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt: Trần Văn T 02 (hai) năm tù; Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 02/8/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trần Văn T: TCTS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Trần Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
Huyện Nghi Lộc

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 76 /2018-HSST
Ngày 19.10.2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC- TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: ông Đinh Loan Hòa

- Các Hội thẩm nhân dân: ông Bùi Sỹ Cường; ông Nguyễn Xuân Vinh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc: ông Nguyễn Trung Giang- Kiểm sát viên

- Thư kí phiên tòa: Ông Vương Thanh Minh- Thư kí Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc.

Ngày 19 tháng 10 năm 2018 tại Hội trường trụ sở Ủy ban nhân dân xã Nghi Diên, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An mở phiên tòa công khai để xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 78/2018/HSST ngày 04 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:

1.Trần Văn T: Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 16 tháng 01 năm 1981. Nơi ĐKHKTT: khối 13, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: Lao động tự do; TĐVH: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Con ông Trần Văn M và bà Trương Thị T. Bị cáo có vợ là Ông Thị Quỳnh N và 01 con sinh năm 2002.

Tiền án:

+ Ngày 05/01/2009 tại bản án số 01/2009/HSST của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Nghệ An xử phạt 07 năm 06 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 02/5/2014.

+ Ngày 30/6/2015 tại bản án số 28/2015/HSST của Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An xử phạt 02 năm tù, về tội: “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 01/12/2016.

Bị cáo Trần Văn T bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2018 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam thuộc Công an tỉnh Nghệ An, có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: anh Lê Văn T- Trú tại xóm 8, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: anh Lê Ngọc P- Trú tại xóm 8, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lúc 18 giờ 30 phút ngày 02/8/2018, Trần Văn T cùng Lê Đăng M (trú tại xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh) rủ nhau cùng đi trộm cắp tài sản là xe mô tô để bán lấy tiền tiêu xài. Trần Văn T mang theo 01 vam phá khóa tự tạo, sử dụng xe mô tô biển kiểm soát 37B2-803.69 của mình chở M đi từ thành phố V dọc theo Quốc lộ 1A ra địa bàn huyện N, tỉnh Nghệ An. Khi đi qua quán GAME C ven đường thuộc khối 4, thị trấn Q thì phát hiện thấy có nhiều xe mô tô dựng trước quán không có người trông coi. T và M thống nhất vào lấy trộm. Trần Văn T dừng xe cách quán khoảng 15m, giao xe cho M đứng chờ và cảnh giới còn T đi vào dùng vam phá khóa, nổ máy lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu vàng, đen, biển kiểm soát 37K1-565.01 của anh Lê Anh T chạy ra hướng đường Quốc lộ 1A. Khi vừa chạy được khoảng 5 mét thì bị phát hiện bắt quả tang.

Tang vật thu giữ gồm: 01 vam phá khóa tự tạo; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu vàng, đen, biển kiểm soát 37K1-565.01.

Tại Bản kết luận định giá số 41/KL-ĐG ngày 03/82018 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân huyện N xác định: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu vàng, đen, biển kiểm soát 37K1-565.01 có giá trị: 8.750.000 đồng.

Chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu vàng, đen, biển kiểm soát 37K1-565.01 đã được trả lại cho anh Lê Ngọc P là chủ sở hữu, cho em trai là Lê Anh T mượn.

Theo Cáo trạng số 83/CT-VKS-HS ngày 02.10.2018 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc thì bị cáo Trần Văn T bị truy tố về tội danh "Trộm cắp tài sản" điểm g khoản 2 theo Điều 173 bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện Kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173 quy định về hình phạt cho tội danh "Trộm cắp tài sản" và các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt Trần Văn T từ 26 đến 30 tháng tù;

Bị cáo nói lời sau cùng, xin Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về hòa nhập với cộng đồng, chăm lo gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1. Về hành vi tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng Hình sự. Việc xác minh, thu thập vật chứng đúng trình tự, khách quan; Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, khẳng định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng pháp luật.

2. Về cấu thành tội phạm: Tại phiên tòa hôm nay, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai những người tham gia tố tụng; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và nội dung quy kết của bản Cáo trạng cũng như trong quá trình tranh tụng: Lúc 21 giờ 30 phút ngày 02/8/2018, tại quán GAME C thuộc khối 4, thị trấn Q, huyện N, tỉnh Nghệ An. Trần Văn T đang có hành vi lấy trộm tài sản là 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu vàng, đen, biển kiểm soát 37K1-565.01 của anh Lê Anh T; Trị giá tài sản chiếm đoạt là 8.750.000 đồng (Tám triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng)

Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của Trần Văn T đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản". Bản thân bị cáo có 02 tiền án chưa được xóa án tích. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo theo điểm g, khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 với yếu tố định khung Tái phạm nguy hiểm là đúng với quy định của pháp luật.

3. Xét tính chất vụ án, nhân thân, tính chất hành vi phạm tội của bị cáo:

Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi bột phát, đơn giản. Mục đích phạm tội xuất phát từ nhu cầu tiêu xài cho cá nhân. Bị cáo đã lợi dụng nơi tập trung nhiều phương tiện giao thông như quán xá, nhà hàng, gần đường giao thông của chủ tài sản để thực hiện hành vi phạm tội và dễ bề tẩu thoát. Hành vi kể trên là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; Mặc dù bị cáo đã có gia đình, có sức khỏe nhưng không tu chí lao động mà ham muốn hưởng thụ trên của cải của người khác. Bị cáo có 02 tiền án về hành vi Trộm cắp tài sản nhưng không lấy đó làm tấm gương để rèn luyện; Việc điều tra, truy tố và xét xử nhanh chóng vụ án là một việc làm kịp thời của các cơ quan tiến hành tố tụng. Đó không chỉ là bài học cho bị cáo mà còn là tiếng chuông cảnh tỉnh cho những thanh thiếu niên không lo lao động làm ăn mà chỉ muốn chơi bời hưởng thụ bất chính.

4. Về tình tiết định khung hình phạt, tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

(4.1) Về định khung hình phạt: bị cáo có 02 tiền án về hành vi trộm cắp tài sản, lần này phạm tội với trị giá tài sản 8.750.000 đồng nên bị xét xử theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng quy định.

(4.2) Về tình tiết tăng nặng:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào

(4.3) Về tình tiết giảm nhẹ:

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; tỏ ra ăn năn hối cải và nhận thức được sai phạm. Hoàn cảnh gia đình rất khó khăn: bố mẹ mất sớm; Vợ chồng li hôn, con còn nhỏ dại. Tài sản trộm cắp có giá trị không lớn và đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu. §©y lµ t×nh tiÕt gi¶m nhÑ tr¸ch nhiÖm h×nh sù quy ®Þnh t¹i ®iÓm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

(4.4) Về hình phạt chính; hình phạt bổ sung:

Dựa vào các nhận định trên, cần áp dụng quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo T mức án từ 24 đến 30 tháng tù nhằm cho bị cáo có đủ thời gian cải tạo, suy ngẫm trở thành người công dân có ích cho xã hội, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Xét bị cáo là lao động tự do không có công việc và thu nhập ổn định nên tha miễn hình phạt phụ cho bị cáo.

5. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản là 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu vàng, đen, biển kiểm soát 37K1-565.01, nay không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét đến.

Đối với Lê Đăng M, hiện cơ quan Điều tra chưa xác định được tung tích nên tách ra xử lý bằng một vụ án khác là đúng quy định.

Bị cáo phải chịu án phí; những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo: Trần Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản".

2. Áp dụng: điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015;

3. Xử phạt: Trần Văn T 02 (hai) năm tù; Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 02/8/2018.

4. Về vật chứng: áp dụng Điều 47 bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy 01 vam phá khóa tự tạo là công cụ phạm tội hiện đang tạm giữ tại kho tang vật cơ quan Thi hành án Dân sự huyện Nghi Lộc theo biên bản giao nhận ngày 17/10/2018.

5. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về Lệ phí, án phí Tòa án buộc Trần Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

6. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ