- Tranh chấp gì? án hình sự — "Truong Cong Th phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Công Th và sửa bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 76/2022/HS-PT Ngày : 25 - 11 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Ngọc Sơn
Các Thẩm phán:
1. Ông Phạm Tấn Tài
2. Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Nhuần – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Năng - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 218/2022/TLPT-HS ngày 02/11/2022 đối với bị cáo Trương Công Th do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2022/HSST ngày 26/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Bị cáo có kháng cáo:
Trương Công Th, sinh năm: 1980, tại tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp T, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (Chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã Th, huyện T, tỉnh An Giang); nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn L (đã chết) và bà Lê Thị Ph (đã chết); bị cáo có vợ là chị Võ Thị L và 02 con (con lớn nhất 19 tuổi, con nhỏ nhất 15 tuổi);
Tiền sự, tiền án: Không;
Nhân thân:
Ngày 19/4/2006 bị U ban nhân dân xã Bình Thành, huyện Châu Thành xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau, đã chấp hành xong.
Ngày 17/10/2006 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xử phạt 09 tháng t nhưng cho hưởng án treo theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung 2009, đã chấp hành xong;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/02/2022, tạm giam từ ngày 05/3/2022 đến ngày 12/4/2022 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Thanh T – Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh An Giang (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trương Công Th: Bà Võ Thị L, sinh năm 1983; nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
(Ngoài ra, trong vụ án còn có người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 23/02/2022, Trương Công Th đi bộ đến khu vực ấp Mỹ Phú, xã Đ, huyện T với mục đích tìm tài sản lấy trộm. Đến đây, Th thấy vách trái tiệm tạp hóa của chị Lê Thị Như M bằng ván gỗ, Th đi đến dùng tay gỡ tấm ván tạo khe hỡ đột nhập vào trong lấy 01 điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy S21 Ultra để trên bàn, Th tiếp tục lục túi xách lấy trộm số tiền 2.000.000 đồng và 246 th cào điện thoại nhiều mệnh giá các mạng Viettel, Vinaphone, Mobiphone, Vietnamobile đựng trong hộp nhựa để cạnh cửa phòng ngủ, sau đó Th thoát ra bằng đường đã đột nhập đem tài sản về nhà cất giấu. Đến khoảng 13 giờ ngày 24-02-2022, Th đến cửa hàng điện thoại di động “Hoàng Đăng” ở ấp B, thị trấn N, huyện T, cầm điện thoại cho chị Nguyễn Thị Thu L, nghi ngờ điện thoại Th mang cầm là tài sản của M mất trộm nên Lan trình báo Công an. Ngay sau đó, Công an xã Định Mỹ mời Th về trụ sở làm việc thì Th thừa nhận đã lấy trộm tài sản của Mai và chỉ nơi cất giấu tài sản để Công an xã Định Mỹ thu hồi.
Vật chứng, tài sản thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S21 Ultra, màu đen; ốp lưng màu đen; 01 sim mạng Mobiphone số 0794.926.475; 01 sim mạng Vinaphone số 0944.778.444; 246 th cào điện thoại các mạng Viettel, Vinaphone, Mobiphone, Vietnamobile mệnh giá từ 10.000 đồng đến 100.000 đồng; số tiền 2.000.000 đồng; 01 m bảo hiểm màu đen đỏ – vàng; 01 áo thun ngắn tay, màu xanh, phía trước và sau có dòng chữ “LEMON”; 01 quần short thun màu xanh, có viền màu trắng – đỏ – đen, quần sau bên phải có dòng chữ “LOWIN”; Xe gắn máy nhãn hiệu Super Cub 50, màu trắng – xanh, biển số 67FK-8686.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 15/KL-HĐĐGTS ngày 28-02-2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thoại Sơn, xác định: “01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Ultra 5G trị giá 32.980.000 đồng, 01 ốp lưng diện thoại màu đen trị giá 90.000 đồng, 01 sim mạng Mobiphone số 0794.926.475 trị giá 50.000 đồng, 01 sim mạng Vinaphone số 0944.778.444 trị giá 100.000 đồng, 04 th cào Vietnammobile mệnh giá 20.000 đồng trị giá 80.000 đồng, 04 th cào Vietnammobile mệnh giá 50.000 đồng trị giá 200.000 đồng, 17 th cào Vinaphone mệnh giá 10.000 đồng trị giá 170.000 đồng, 09 th cào Vinaphone mệnh giá 20.000 đồng trị giá 180.000 đồng, 10 th cào Vinaphone mệnh giá 100.000 đồng trị giá 1.000.000 đồng, 37 th cào Viettel mệnh giá 10.000 đồng trị giá 370.000 đồng, 44 th cào Viettel mệnh giá 20.000 đồng trị giá 880.000 đồng, 10 th cào Viettel mệnh giá 100.000 đồng trị giá 1.000.000 đồng, 24 th cào Mobiphone mệnh giá 20.000 đồng trị giá 480.000 đồng, 15 th cào Mobiphone mệnh giá 100.000 đồng trị giá 1.500.000 đồng, 72 th cào Mobiphone mệnh giá 50.000 đồng trị giá 3.600.000 đồng. Giá trị tổng cộng 42.680.000 đồng”.
Phiếu trả lời xác minh ngày 28-6-2022 của Công an huyện Thoại Sơn, xác định: Xe mô tô biển số 67FK - 8686, số máy C50E6046203 số khung C506046250, chủ xe Trương Công Thiết.
Ngày 08-3-2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thoại Sơn đã trao trả điện thoại; ốp lưng; 02 sim; 246 th cào điện thoại các mạng Viettel, Vinaphone, Mobiphone, Vietnamobile mệnh giá từ 10.000 đồng đến 100.000 đồng và số tiền 2.000.000 đồng cho Lê Thị Như Mai.
Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 92/2022/KLGĐ ngày 29-4-2022 và Công văn số 92.0/PYTT ngày 29/4/2022 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ đối với Trương Công Th, sinh năm 1980 như sau:
- Về y học: Trước, trong, sau khi phạm tội và hiện tại: Đương sự có bệnh lý tâm thần: Chậm phát triển tâm thần nhẹ (F70 – ICD10).
- Về năng lực: Tại thời điểm phạm tội: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Tại Cáo trạng số 32/CT-VKSTS-HS ngày 02/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn truy tố bị cáo Trương Công Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 62/2022/HSST ngày 26/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang đã quyết định:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm q, s khoản 1 Điều 51; Điều 50, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Trương Công Th 06 (sáu) tháng t về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt t tính từ ngày bắt để thi hành án (có khấu trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/02/2022 đến ngày 12/4/2022 là 01 (một) tháng 19 (mười chín) ngày).
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 28/9/2022 bị cáo Trương Công Th có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và xin được hưởng án treo.
Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố nhà nước tại phiên tòa phát biểu quan điểm về vụ án và đề xuất với Hội đồng xét xử:
- Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Bị cáo Trương Công Th kháng cáo trong hạn luật định nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận việc kháng cáo để xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
- Về nội dung: Án sơ thẩm đánh giá đúng tính chất vụ án, xét xử bị cáo Trương Công Th về tội “Trộm cắp tài sản” và tuyên phạt mức án 06 tháng t là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, giai đoạn phúc thẩm bị cáo có cung cấp đơn của bị hại Lê Thị Như M và nhân dân tại nơi cư trú xin cho bị cáo được án treo do hoàn cảnh khó khăn, đang uống thuốc và điều trị bệnh tâm thần hàng ngày, thời gian tại ngoại không có vi phạm gì ở địa phương, quá trình điều tra đã bị tạm giam 01 tháng 19 ngày. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Công Th, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà xử phạt bị cáo 06 tháng t nhưng cho hưởng án treo c ng có tác dụng răn đe giáo dục và phòng chống tội phạm.
Người bào chữa cho bị cáo Trương Công Th không tranh luận về tội danh và điều luật cấp sơ thẩm đã xét xử. Thống nhất với đề xuất của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại tòa. Hiện nay, hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, đang uống thuốc điều trị bệnh tâm thần hàng ngày, từ khi phạm tội đến nay không vi phạm gì mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho bị cáo Trương Công Th được hưởng án treo c ng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng chống tội phạm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Bị cáo Trương Công Th kháng cáo trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận để xét xử phúc thẩm.
Đối với người bào chữa cho bị cáo Trương Công Th nêu ra những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trương Công Th thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng và bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo. Bị cáo thành khẩn nhận tội, hối hận về việc làm của bản thân, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Xét kháng cáo của bị cáo Trương Công Th thì thấy: Trong vụ án này, tuy bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nhưng vẫn nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là hành vi trái pháp luật, sẽ bị pháp luật trừng trị. Xuất phát từ động cơ tham lam, muốn có tiền tiêu xài, lợi dụng thời điểm ban đêm, bị cáo tìm cách đột nhập vào tiệm tạp hóa, lén lút lấy trộm nhiều tài sản của bị hại gồm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S21 Ultra, màu đen; ốp lưng màu đen; 01 sim mạng Mobiphone số 0794.926.475; 01 sim mạng Vinaphone số 0944.778.444; 246 th cào điện thoại các mạng Viettel, Vinaphone, Mobiphone, Vietnamobile mệnh giá từ 10.000 đồng đến 100.000 đồng; số tiền 2.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt lên đến 44.680.000 đồng. Hành vi của bị cáo Th là nguy hiểm cho xã hội, xem thường pháp luật, phạm tội với lỗi cố ý, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân. Cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo Th theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội. Khi lượng hình có xem xét đến các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xử phạt bị cáo 06 tháng t là tương xứng với hậu quả, tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Đây không phải là mức án nặng như bị cáo trình bày.
Giai đoạn phúc thẩm, bị cáo có cung cấp đơn của bị hại Lê Thị Như M và những người dân tại địa phương nơi bị cáo cư trú xin cho bị cáo được hưởng án treo. Hội đồng xét xử xét thấy: Lẽ ra phải giữ nguyên mức hình phạt như án sơ thẩm đã tuyên, tuy nhiên xét thấy hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn, đang điều trị bệnh tâm thần hàng ngày, giai đoạn điều tra đã bị tạm giam 01 tháng 19 ngày, từ khi phạm tội đến nay bị cáo không có vi phạm gì mới tại địa phương, có nơi cư trú rõ ràng; được người bị hại và nhân dân tại địa phương xin cho bị cáo được án treo. Ngoài ra, việc bắt bị cáo là một người bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi để thụ hình c ng không có tác dụng trong việc giáo dục răn đe tội phạm. Do đó, để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội bị hạn chế năng lực trách nhiệm hình sự và tạo điều kiện cho bị cáo ở địa phương điều trị bệnh, Hội đồng xét xử đối chiếu Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trương Công Th, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, quyết định cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của Luật sư và đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa hôm nay.
Do chấp nhận kháng cáo nên bị cáo Trương Công Th không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm theo điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Công Th và sửa bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm q, s khoản 1 Điều 51; Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao.
Xử phạt: Bị cáo Trương Công Th 06 (sáu) tháng t về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án (25/11/2022).
Giao bị cáo Trương Công Th cho Ủy ban nhân dân xã Thoại Giang, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.
(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo).
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt t của bản án đã cho hưởng án treo.
Bị cáo Trương Công Th không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các Quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2022/HSST ngày 26/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao (1); - VKSND tỉnh An Giang (2); - TAND huyện,thi (2); - Công an huyện (1); - Cục THADS tỉnh An Giang (1); - Chi cục THADS huyện (1); - Trại tạm giam (1); - Bị cáo (1); - Phòng KTNV và THA (1); - Tòa hình sự (1); - PV 06 (1); - Sở Tư pháp (1); - Văn phòng (2); - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Ngọc Sơn |