vanban.org

Bản án 76/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Công Ngọc H được ly hôn với anh Huỳnh Bé T.

Về con chung: Tiếp tục giao con chung là Huỳnh Nguyễn Gia H, sinh ngày 10/02/2017 cho anh T nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến v… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa Nguyễn Công Ngọc Hạ và Huỳnh Bé Tý"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Công Ngọc H được ly hôn với anh Huỳnh Bé T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29/7/2025
V/v tranh chấp "Ly hôn, nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

* Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Ngọc Giàu

* Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Chi

2. Ông Huỳnh Hoàng Nam

* Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Phượng – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5

- An Giang.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - An Giang: Ông Trần Ngọc Nhiều – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 284/2025/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 255/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Công Ngọc H, sinh nămm 1994.

Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện G, tỉnh K.

Nay là: ấp H, xã H, tỉnh A.

2. Bị đơn: Anh Huỳnh Bé T, sinh năm: 1986.

Địa chỉ: ấp N, xã N1, huyện G, tỉnh K.

Nay là: ấp N, xã N1, tỉnh A..

(Chị H có đơn xin vắng mặt; anh T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, các ý kiến và yêu cầu trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Công Ngọc H trình bày:

Do mai mối chị và anh T tiến tới hôn nhân, anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N1, huyện G, tỉnh K. Quá trình chung sống không hạnh phúc, do vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, dẫn đến cải vã liên tục. Nguyên nhân là do không phù hợp tính ý, bất đồng quan điểm sống, sinh hoạt, tiền bạc, không có được tiếng nói chung. Mặc dù chị và anh T đã có cho nhau cơ hội nhưng không có kết quả. Chị và anh T đã ly thân từ năm 2018 đến nay.

Nhận thấy hôn nhân giữa chị và anh T không thể hàn gắn được nữa nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T.

Về con chung: Trong quá trình chung sống giữ chị và anh T có 01 con chung tên Huỳnh Nguyễn Gia H, sinh ngày 10/02/2017, hiện đang ở với anh T. Khi ly hôn chị giao cháu H cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Huỳnh Bé T không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Công Ngọc H, mặc dù Tòa án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng đúng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Chị H: Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Anh T: Vắng mặt không có lý do mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần.

- Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng, bị đơn vắng mặt không đảm bảo theo quy định tại khoản 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử cho chị H được ly hôn với anh T; về con chung: có 01 con chung tên Huỳnh Nguyễn Gia H, sinh ngày 10/02/2017, hiện đang ở với anh T. Khi ly hôn chị H giao cháu H cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy từ khi chị H và anh T ly thân cho đến nay thì cháu H sống với anh T; đồng thời theo nguyện vọng của cháu H có nguyện vọng được sống với anh T. Phía anh T không có ý kiến gì về việc chị H giao cháu H cho anh T nuôi dưỡng nên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục giao con chung là Huỳnh Nguyễn Gia H, sinh ngày 10/02/2017 cho anh T nuôi dưỡng, về cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết do anh T không có yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: chị Nguyễn Công Ngọc H không yêu cầu Tòa án giải quyết, phía anh T không có ý kiến gì về tài sản chung và nợ chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn anh Huỳnh Bé T có hộ khẩu thường trú ở ấp Ngọc An, xã N1, huyện G, tỉnh K (nay là ấp N, xã N1, tỉnh A.). Vì vậy tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang theo quy định khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Nguyễn Công Ngọc H có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Huỳnh Bé T vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị H và anh T trong vụ án này.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

- Xét thấy quan hệ hôn nhân của chị H và anh T là hợp pháp, được Ủy ban nhân dân xã N1, huyện G, tỉnh A. cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 40/2016 ngày 21 tháng 3 năm 2016.

Theo chị H nguyên nhân là do không phù hợp tính ý, bất đồng quan điểm sống, sinh hoạt, tiền bạc, không có được tiếng nói chung. Mặc dù chị và anh T đã có cho nhau cơ hội nhưng không có kết quả. Chị và anh T đã ly thân từ năm 2018 đến nay. Xét thấy tình cảm không hàn gắn được nữa nên chị yêu cầu ly hôn.

Anh T không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện cũng như nguyên nhân mâu thuẫn mà phía chị H đưa ra. Mặc dù, lời trình bày của chị H là đơn phương nhưng anh T không có ý kiến phản bác đối với lời trình bày này. Hơn nữa, anh T không tham dự các phiên hòa giải của Tòa án để thể hiện ý kiến của mình là muốn đoàn tụ, hàn gắn mâu thuẫn hôn nhân chứng tỏ anh T không mong muốn tiếp tục duy trì hôn nhân với chị H. Đồng thời anh, chị đã có thời gian ly thân khá lâu vẫn không thể hàn gắn, đoàn tụ. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định cuộc sống hôn nhân giữa chị H và anh T không thể tiếp tục kéo dài, tình trạng hôn nhân của anh, chị đã không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị H là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị H xác định giữa chị và anh T có 01 con chung tên Huỳnh Nguyễn Gia H, sinh ngày 10/02/2017, hiện đang ở với anh T. Khi ly hôn chị H giao cháu H cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy từ khi chị H và anh T ly thân cho đến nay thì cháu H sống với anh T; đồng thời theo nguyện vọng của cháu H có nguyện vọng được sống với anh T. Phía anh T không có ý kiến gì về việc chị H giao cháu H cho anh nuôi dưỡng. Do đó để đảm bảo sự phát triển và quyền lợi của con chung nên cần tiếp tục giao con chung là Huỳnh Nguyễn Gia H, sinh ngày 10/02/2017 cho anh T nuôi dưỡng là phù hợp.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó;

[4] Về tiền cấp dưỡng nuôi con chung: Anh T không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị H xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh T không có ý kiến tài sản chung cũng như nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

[7] Xét đề nghị của Vị Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Các Điều 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;

- Các Điều 24; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Công Ngọc H được ly hôn với anh Huỳnh Bé T.

2. Về con chung: Tiếp tục giao con chung là Huỳnh Nguyễn Gia H, sinh ngày 10/02/2017 cho anh T nuôi dưỡng.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó;

- Tiền cấp dưỡng nuôi con: Không giải quyết do không có yêu cầu.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết do không có yêu cầu.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Công Ngọc H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chị H đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0013158 ngày 14/4/2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 5). Xem như chị H đã thi hành xong phần án phí.

5. Chị Nguyễn Công Ngọc H, Anh Huỳnh Bé T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ