- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị H - Lâm Văn B"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị H về việc: Tranh chấp ly hôn đối với ông Lâm Văn B.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 76/2025/HNGĐ- ST Ngày: 14/4/2025 V/v: Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Quan Thị Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lộc Thị Kim Thơm
2. Bà Đặng Thị Huệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 332/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2024 về việc: Tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 13/3/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28/3/2025 giữa:
* Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị H, sinh năm 1977.
Địa chỉ: Thôn Y, xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang
* Bị đơn: Ông Lâm Văn B, sinh năm 1974.
Địa chỉ: Thôn Y, xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang
(Bà H có đơn xin xét xử vắng mặt, ông B vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Hoàng Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ngày 19 tháng 12 năm 1996 bà có kết hôn với ông Lâm Văn B trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi kết hôn ông bà chung sống tại nhà riêng ở Thôn Y, xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, nhiều điểm bất đồng trong cuộc sống, ông B thường xuyên rượu chè, có mối quan hệ ngoài luồng, không quan tâm đến vợ con, vợ chồng thường xuyên cãi vã. Hiện nay bà và ông B đã sống ly thân với nhau. Bà xác định tình cảm giữa bà và ông Lâm Văn B không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể hàn gắn được, mục đích của cuộc hôn nhân không đạt được, đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lâm Văn B.
- Về con chung: Bà với ông Lâm Văn B có hai người con chung là cháu Lâm Thị Thu H1, sinh ngày 25/6/1997 và cháu Lâm Ngọc T, sinh ngày 01/4/2002. Hiện các con đều đã trưởng thành, khỏe mạnh và có công việc ổn định, không cần bố mẹ phải cấp dưỡng nên không đề nghị Tòa án giải quyết về con chung khi ly hôn.
- Về tài sản chung: Ông bà tự thỏa thuận không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về vay nợ chung: Ông bà không vay nợ ai và không cho ai vay nợ, không
đề nghị Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, do ông Lâm Văn B vắng mặt tại địa phương Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng đối với ông B. Tuy nhiên ông B không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án. Do đó Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Kết quả xác minh tại Thôn Y, xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang như sau:
Bà Hoàng Thị H và ông Lâm Văn B có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Y vào ngày 19/12/1996. Sau khi kết hôn, ông bà chung sống tại nhà riêng ở Thôn Y, xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là gì thì chính quyền địa phương không nắm được. Theo thông tin địa phương nắm được ông B, bà H đã ly thân từ lâu. Ông B thường xuyên đi làm ăn xa không có mặt ở nhà, thi thoảng mới về.
Về con chung: Bà Hoàng Thị H và ông Lâm Văn B có hai người con chung là cháu Lâm Thị Thu H1, sinh ngày 25/6/1997 và cháu Lâm Ngọc T, sinh ngày 01/4/2002. Hiện các cháu đều đã trưởng thành, có khả năng lao động và nhận thức đầy đủ.
Về tài sản chung: Bà Hoàng Thị H và ông Lâm Văn B có tài sản gì chung thì thôn không nắm được.
Về vay nợ chung: Bà Hoàng Thị H và ông Lâm Văn B không vay nợ tổ chức, đoàn thể nào của thôn.
Nay bà H khởi kiện Tòa án giải quyết ly hôn đối với ông B, đề nghị Tòa án niêm yết các giấy tờ đối với ông B theo quy định của pháp luật.
Kết quả xác minh tại Công an xã H, huyện Y thể hiện bà Hoàng Thị H, sinh năm 1977 và ông Lâm Văn B, sinh năm 1974 là vợ chồng có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn Y, xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Ông Lâm Văn B thường xuyên đi làm ăn xa không có mặt tại địa phương, thi thoảng mới về nhà, ông B không khai báo tạm vắng tại địa phương.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn phát biểu quan điểm: Toà án đã thụ lý, giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm về việc “Tranh chấp ly hôn” là đúng thẩm quyền, đúng nội dung tranh chấp. Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của đương sự được đảm bảo, đề nghị HĐXX: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị H, xử cho bà Hoàng Thị H được ly hôn với ông Lâm Văn B.
Về án phí, bà Hoàng Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, ông Lâm Văn B không phải chịu án phí. Đề nghị HĐXX tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, HĐXX nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn bà Hoàng Thị H khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Lâm Văn B. Do vậy quan hệ pháp luật tranh chấp xác định là: Tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1, Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn ông Lâm Văn B đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã H, huyện Y. Vì vậy, thẩm quyền giải quyết vụ án là Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn theo quy định tại các Điều 35 và 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn bà Hoàng Thị H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn ông Lâm Văn B triệu tập hợp lệ lần thứ hai, vắng mặt không có lý do. Vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, HĐXX nhận định:
Căn cứ kết quả xác minh tại chính quyền địa phương xác định: Bà Hoàng Thị H và ông Lâm Văn B đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang giấy chứng nhận kết hôn số 82, quyển số 01 ngày 19/12/1996, hai bên kết hôn hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc. Do vậy quan hệ hôn nhân của bà H và ông B là hợp pháp.
Sau khi kết hôn vợ chồng ông bà H2 sống tại nhà riêng ở Thôn Y, xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo bà H xác định do tính tình không hợp, nhiều điểm bất đồng trong cuộc sống, ông B thường xuyên rượu chè, không quan tâm đến vợ con, vợ chồng thường xuyên cãi vã, ông bà đã sống ly thân nhiều năm nay. Bản thân bà H xác định vợ chồng không còn tình cảm, không thể quay lại đoàn tụ được.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án thông báo phiên hòa giải nhưng ông B không có mặt theo yêu cầu của Tòa án để tiến hành hòa giải, điều đó cho thấy ông B cũng không mong muốn hòa giải đoàn tụ.
Từ những căn cứ trên xác định, tình trạng hôn nhân giữa bà H và ông B đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của bà H là chính đáng và có căn cứ cần chấp nhận theo quy định tại khoản 1, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Bà Hoàng Thị H và ông Lâm Văn B có hai người con chung là cháu Lâm Thị Thu H1, sinh ngày 25/6/1997 và cháu Lâm Ngọc T, sinh ngày 01/4/2002. Hiện các cháu đều đã trưởng thành, có khả năng lao động và nhận thức đầy đủ, ly hôn bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
Về tài sản chung: Bà Hoàng Thị H và ông Lâm Văn B tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
Về công nợ chung: Bà Hoàng Thị H và ông Lâm Văn B không có vay nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bà H phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Ông B không phải chịu án phí. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 267, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị H về việc: Tranh chấp ly hôn đối với ông Lâm Văn B.
2. Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thị H được ly hôn ông Lâm Văn B (Giấy chứng nhận kết hôn số 82 quyển số 01 ngày 19/12/1996 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang).
3. Về án phí: Bà Hoàng Thị H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 000002509983 ngày 20/12/2024 của Công ty cổ phần T3 và biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002270 ngày 20 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Ông Lâm Văn B không phải chịu án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND huyện Yên Sơn; - Chi cục THADS huyện Yên Sơn; - UBND xã Hoàng Khai, huyện Yên Sơn (Nơi ĐKKH); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quan Thị Thu Trang |