vanban.org

Bản án 76/2025/HNGĐ-ST — Tranh chấp về cấp dưỡng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Kiều D.

Buộc ông Phạm Ngọc H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là Phạm Nguyễn Diễm N, sinh ngày 13/12/2008 và Phạm Nguyễn Hưng N, sinh ngày 10/6/2015 mỗi tháng 2.500.000 đồng/mỗi người con, đến khi các con tròn 18 tuổi. Thời điểm cấp dưỡng tính kể từ ngày bản án có hiệu lực. Kể từ ngày bà D có đơn yêu cầu thi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về cấp dưỡng — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Kiều D khởi kiện Phạm Ngọc H yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Kiều D.
  • Căn cứ chính? Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỚI BÌNH
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2025/HNGĐ-ST
Ngày 19 - 5 - 2025
“V/v cấp dưỡng nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Kim Cương

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hồ Lệ Hoa

Ông Đặng Minh Việt

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Phượng Kiều – Là thư ký Toà án nhân dân huyện Thới Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình tham gia phiên toà: Bà Đào Thị Mỹ Linh – kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 56/2025/ HNGĐ-ST ngày 17 tháng 02 năm 2025 về việc “yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Kiều D, sinh năm 1984 (có mặt)

Địa chỉ cư trú: Ấp 2, xã TP, huyện TB, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Phạm Ngọc H, sinh năm 1975 (vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Ấp 2, xã TP, huyện TB, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn bà Nguyễn Kiều D trình bày tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và được bổ sung tại phiên tòa như sau:

Bà và ông Phạm Ngọc H ly hôn theo Bản án số 121/2023/HNGĐ – ST ngày 13/6/2023 của Toà án nhân dân huyện Thới Bình. Tại phần quyết định của bản án giao cho bà nuôi 02 con chung là Phạm Nguyễn Diễm N, sinh ngày 13/12/2008 và Phạm Nguyễn Hưng N, sinh ngày 10/6/2015. Về phần cấp dưỡng nuôi con bà nghĩ để tự ông H có trách nhiệm với con nên khi ly hôn bà không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, từ thời điểm ly hôn đến nay, ông H không thực hiện nghĩa vụ của người làm cha, không thăm nom và phụ tiếp cho bà bất cứ khoản chi phí nào để lo cho 02 con chung. Trong khi hiện nay ông H có công việc làm ổn định là giáo viên đang dạy học tại trường Nguyễn Văn Nguyễn. Do hiện bé Phạm Nguyễn Diễm N bị bệnh tim, bệnh mắt bẩm sinh và hiện bị hen suyễn, bé Phạm Nguyễn Hưng N cũng bị hen suyễn. Cả hai bé đang điều trị định kỳ hàng tháng tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, thành phố Hồ Chí Minh, mỗi lần điều trị không dưới 10.000.000 đồng, nên lương của một mình bà không đủ chi phí để nuôi 02 con. Tổng các chi phí học hành, điều trị bệnh cho 02 bé mỗi tháng trên 14.000.000 đồng. Chính vì vậy, bà yêu cầu ông Phạm Ngọc H thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng với mức 2.500.000 đồng/mỗi người con cho đến khi các con đủ 18 tuổỉ.

- Đối với ông Phạm Ngọc H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa xét xử lần thứ hai nH ông H khước từ nhận văn bản tố tụng và vắng mặt không có lý do, cũng không có văn bản ý kiến gửi đến Tòa án.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ, chính xác đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, đương sự đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 81, 82, 83, 110 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kiều D về việc yêu cầu ông Phạm Ngọc H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.500.000 đồng/mỗi người con đến khi các con đủ 18 tuổi. Án phí xử lý theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng và thẩm quyền giải quyết

[1.1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Phạm Ngọc H đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nH ông H vắng mặt không lý do. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Nội dung tranh chấp giữa bà bà Nguyễn Kiều D với ông Phạm Ngọc H được xác định là tranh chấp về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn. Bị đơn ông Phạm Ngọc H có địa chỉ cư trú tại xã TP, huyện TB nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng: Bà Nguyễn Kiều D và ông Phạm Ngọc H đã ly hôn với nhau, được Tòa án nhân dân huyện Thới Bình giải quyết tại Bản án số 121/2023/HNGĐ – ST ngày 13/6/2023. Phần quyết định của bản án nêu trên đã tuyên giao cho bà D nuôi 02 con chung là Phạm Nguyễn Diễm N, sinh ngày 13/12/2008 và Phạm Nguyễn Hưng N, sinh ngày 10/6/2015. Không đề cập về cấp dưỡng nuôi con. Theo nguyên đơn cho rằng khi ly hôn, bà để ông H tự nguyện thực hiện nghĩa vụ làm cha, nên từ tháng 6 năm 2023 đến nay ông H không phụ tiếp với bà lo chi phí nuôi dưỡng hai con.

Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn như sau: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Việc cấp dưỡng nuôi con là quyền lợi của con. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng nuôi con bao gồm những chi phí hợp lý ăn uống, học hành, điều trị bệnh... Tại phiên toà bà D xác định chi phí thực tế để chăm lo cho mỗi người con là hơn 7.000.000 triệu/tháng. Trong khi ông H có nghề nghiệp ổn định là giáo viên với thu nhập mỗi tháng là 11.694.880 đồng. Đối chiếu quy định thì những chi phí hợp lý như ăn uống, học hành, điều trị bệnh của Diễm N và Hưng N mà nguyên đơn đưa ra là phù hợp bỡi ngoài việc học hành thì hai con chung của bà D và ông H còn đang bị bệnh phải điều trị định kỳ hàng tháng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Vì vậy, để đảm bảo việc chăm lo cho sức khoẻ của các cháu và so với mức thu nhập của bị đơn thì việc bà D yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi mỗi con 2.500.000 đồng/tháng là phù hợp nên được chấp nhận.

Ông H không trực tiếp nuôi con, nH có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 81, 82, 83, 110 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 11 Nghị quyết 01/2024 Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Kiều D.

Buộc ông Phạm Ngọc H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là Phạm Nguyễn Diễm N, sinh ngày 13/12/2008 và Phạm Nguyễn Hưng N, sinh ngày 10/6/2015 mỗi tháng 2.500.000 đồng/mỗi người con, đến khi các con tròn 18 tuổi. Thời điểm cấp dưỡng tính kể từ ngày bản án có hiệu lực.

Kể từ ngày bà D có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông H không tự nguyện thi hành xong khoản tiền cấp dưỡng nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự và Luật Thi hành án dân sự.

Ông Phạm Ngọc H có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

Án phí về cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng ông H phải nộp, bà D không phải nộp án phí đã dự nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0016843 ngày 14/02/2025 được nhận lại toàn bộ khi bản án hiệu lực.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ