vanban.org

Bản án 76/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Vi Thị Thúy K và anh Đào V. Quan hệ hôn nhân giữa chị Vi Thị Thúy K và anh Đào Vinh Quang chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Về con chung: Giao cháu Đào Diệu C - Sinh ngày 12/6/2017 cho chị Vi Thị Thúy K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Đào Diệu C đủ 18 tuổi. Anh Đào Vinh Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Đào Vinh Quang có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vi Thị Thúy K - Đào Vinh Q"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Vi Thị Thúy K và anh Đào V. Quan hệ hôn nhân giữa chị Vi Thị Thúy K và anh Đào Vinh Quang chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LÀO CAI
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76 /2024/HNGĐ-ST
Ngày 09 - 12 - 2024
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thu Trang

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Văn Ngân

2. Bà Vũ Thị Hòa

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Linh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hồng Liễu - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 188/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc kiện “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 51/2024/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Vi Thị Thúy K - Sinh năm 1997

Địa chỉ: Tổ A, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Anh Đào V - Sinh năm 1994

Địa chỉ: Tổ A, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt (Không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Vi Thị Thúy K trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị Thúy K và anh Đào Vinh Quang đăng ký kết hôn ngày 10/4/2017 tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh chị không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên giữa vợ chồng thường xuyên xảy ra việc cãi chửi nhau, vợ chồng không quan tâm đến nhau cả về tình cảm và kinh tế. Anh Đào Vinh Quang không quan tâm đến gia đình, chỉ có một mình chị Vi Thị Thúy K chăm lo, chăm sóc cho con. Mâu thuẫn giữa anh chị đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng vẫn không cải thiện được. Đến nay chị Vi Thị Thúy K nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên chị Vi Thị Thúy K đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đào Vinh Quang để chị sớm ổn định cuộc sống.

Về con chung: Quá trình chung sống chị Vi Thị Thúy K1 và anh Đào Vinh Quang có 01 con chung là cháu Đào Diệu C - Sinh ngày 12/6/2017, khi ly hôn chị Vi Thị Thúy K đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Đào Diệu C đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị Vi Thị Thúy K không yêu cầu anh Đào Vinh Quang phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay chị Vi Thị Thúy K đang làm công việc lao động tự do, thu nhập của chị bình quân khoảng 10.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản: Chị Vi Thị Thúy K không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Đào Vinh Q: Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tiến hành tống đạt nhưng anh Đào Vinh Quang thường xuyên đi làm, thỉnh thoảng mới về nhà nên Tòa án đã không tống đạt trực tiếp được cho anh Đào Vinh Q. Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Đ Vinh Quang theo đúng quy định nhưng anh Đào Vinh Quang không có văn bản trả lời và cũng không đến Toà án làm bản tự khai, tiếp cận công khai chứng cứ. Vì vậy Toà án đã đưa vụ án ra xét xử và tiến hành xét xử vắng mặt anh Đào Vinh Quang.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án các thủ tục tố tụng được tiến hành đầy đủ. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đúng quy định, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Tại phiên tòa nguyên đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Về hôn nhân: Xử cho chị Vi Thị Thúy K được ly hôn với anh Đào Vinh Quang.

Về con chung: Giao cháu Đào Diệu C - Sinh ngày 12/6/2017 cho chị Vi Thị Thúy K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Đào Diệu C đủ 18 tuổi. Anh Đào Vinh Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Vi Thị Thúy K khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đào Vinh Q và giải quyết việc nuôi con chung giữa anh chị, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Bị đơn anh Đào Vinh Quang có địa chỉ tại tổ A, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng của Toà án đúng quy định nhưng anh Đào Vinh Quang không đến Toà án làm bản tự khai, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Nguyên đơn chị Vi Thị Thúy K đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, do vậy đây là vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ Luật tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa nguyên đơn chị Vi Thị Thúy K có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Đào Vinh Q vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện:

Về hôn nhân: Chị Vi Thị Thúy K và anh Đào Vinh Quang đăng ký kết hôn ngày 10/4/2017 tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai trên cơ sở tự nguyện do đó hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp. Về mâu thuẫn vợ chồng chị Vi Thị Thúy K cho rằng sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2020 năm thì giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chị không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên xảy ra việc cãi chửi nhau, anh Đào Vinh Q không quan tâm đến gia đình, một mình chị K phải chăm lo, chăm sóc cho con chung của anh chị. Mâu thuẫn giữa anh chị đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng vẫn không cải thiện được. Tại biên bản xác minh ngày 03/10/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai đã xác định trong thời gian chung sống giữa chị Vi Thị Thúy K và anh Đào Vinh Quang có xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng sống không quan tâm đến nhau, con chung của anh chị chủ yếu do chị Vi Thị Thúy K chăm sóc, nuôi dưỡng. Nội dung xác minh của Tòa án phù hợp với lời khai của chị Vi Thị Thúy K và tài liệu chứng cứ thu thập được. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Vi Thị Thúy K và anh Đào Vinh Q đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không có hạnh phúc, giữa vợ chồng không có sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Vi Thị Thúy K đối với anh Đào V.

Về con chung: Thời gian chung sống chị Vi Thị Thúy K và anh Đào Vinh Quang có 01 con chung là cháu Đào Diệu C - Sinh ngày 12/6/2017. Khi ly hôn chị Vi Thị Thúy K có nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Đào Diệu C đến khi cháu Đào Diệu C đủ 18 tuổi, chị Vi Thị Thúy K không yêu cầu anh Đào Vinh Quang phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Vi Thị Thúy K trình bày hiện nay chị đang làm công việc lao động tự do, thu nhập của chị bình quân khoảng 10.000.000 đồng/tháng, anh Đào Vinh Q không đến Tòa án trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn của chị Vi Thị Thúy K. Ngày 03/10/2024 Toà án nhân dân thành phố Lào Cai đã tiến hành xác minh về điều kiện sống, mức thu nhập của chị Vi Thị Thúy K và anh Đào V, qua đó đã xác định hiện nay chị Vi Thị Thúy K và anh Đào Vinh Quang đều làm công việc lao động tự do, cả hai anh chị đều có việc làm và thu nhập ổn định. Quá trình giải quyết vụ án, cháu Đào Diệu C có nguyện vọng được ở với chị Vi Thị Thúy K. Xét thấy chị Vi Thị Thúy K có đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung của anh chị, cháu Đào Diệu C cũng có nguyện vọng được ở với chị Vi Thị Thúy K. Do đó, để đảm bảo cho quyền lợi cũng như nguyện vọng của cháu Đào Diệu C, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Đào Diệu C cho chị Vi Thị Thúy K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Đào Diệu C đủ 18 tuổi, anh Đ Vinh Quang có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Vi Thị Thúy K không yêu cầu anh Đào Vinh Quang phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Chị Vi Thị Thúy K không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Vi Thị Thúy K phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Vi Thị Thúy K và anh Đào V. Quan hệ hôn nhân giữa chị Vi Thị Thúy K và anh Đào Vinh Quang chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao cháu Đào Diệu C - Sinh ngày 12/6/2017 cho chị Vi Thị Thúy K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Đào Diệu C đủ 18 tuổi. Anh Đào Vinh Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Đào Vinh Quang có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Vi Thị Thúy K phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận chị Vi Thị Thúy K đã nộp đủ tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000755 ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai.

Chị Vi Thị Thúy K và anh Đào Vinh Quang được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ