vanban.org

Bản án 76/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Duy L.

Về tình cảm: Anh Trần Duy L được ly hôn với chị Nguyễn Thị H. Về con chung: Giao cháu Trần Minh Q, sinh ngày 09/02/2017 cho chị Nguyễn Thị H nuôi dưỡng cho đến khi cháu Q đủ 18 tuổi, lao động được. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Duy L và Nguyễn Thị H"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Duy L.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ CÔNG TÂY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2024/HNGĐ-ST;
Ngày: 12-3-2024;
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Xuân.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Ngọc Hân.

Bà Trần Thị Tuyết Trinh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Huỳnh Phúc Tài, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Tây tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quí, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 443/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 01 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 17/2024/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Gò Công Tây, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Trần Duy L, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Ấp L, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Nguyễn Thị H, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Ấp L, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

(Anh L xin vắng mặt và chị H vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn xin ly hôn và các lời trình bày tại tòa nguyên đơn anh Trần Duy L trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị H sống chung vào năm 2007, do tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B. Sau khi cưới anh chị sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng, vợ chồng thường xuyên cự cải, vợ chồng không có tiếng nói chung mặc dù anh đã khuyên can chị H nhiều lần nhưng không

- 2 -

khắc phục được dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Anh và chị H đã sống ly thân từ tháng 9/2022 đến nay. Nay xét thấy tình cảm không còn, đời sống vợ chồng không còn hạnh phúc và không thể hàn gắn lại được.

Về quan hệ tình cảm: Anh yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị H.

Về con chung: Có 01 con tên Trần Minh Q, sinh ngày 09/02/2017, hiện con đang sống với chị H. Khi ly hôn anh để chị H tiếp tục nuôi con và anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

* Bị đơn chị Nguyễn Thị H mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng chị H vẫn vắng mặt và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh L về ly hôn, về nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Nguyên đơn anh Trần Duy L yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị H, giao con chung cho chị H nuôi nên Hội đồng xét xử xác định đây là “Tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại địa phương nên thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân huyện G theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét nguyên đơn anh Trần Duy L có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn chị Nguyễn Thị H đã được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt anh L và chị H.

Đối với yêu cầu khởi kiện của anh Trần Duy L, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[3.1] Về tình cảm: Anh Trần Duy L và chị Nguyễn Thị H sống chung năm 2007, do tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Anh L xin

- 3 -

ly hôn với chị H với lý do bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng, vợ chồng thường xuyên cự cải, vợ chồng không có tiếng nói chung mặc dù anh L đã khuyên can chị H nhiều lần nhưng không khắc phục được dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, anh L và chị H đã sống ly thân từ tháng 9/2022 đến nay. Anh L xin vắng mặt và vẫn giữ yêu cầu ly hôn với chị H; phía chị H đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa cho thấy chị H không có thành ý cứu vãn cuộc hôn nhân giữa anh chị. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh L và chị H không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin được ly hôn của anh Trần Duy L là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

Về con chung: Xét việc anh L đồng ý để chị H tiếp tục nuôi cháu Trần Minh Q, sinh ngày 09/02/2017 là có cơ sở vì hiện nay cháu Q đang sống với chị H đã ổn định về chỗ ở, về điều kiện học hành, về tâm lý. Phía chị H là người đang trực tiếp nuôi cháu Q không có văn bản ý kiến trình bày ý kiến về việc nuôi con chung và không có yêu cầu gì cho thấy chị H đồng ý việc nuôi con chung như hiện nay. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu Q cho chị H nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh L không cấp dưỡng nuôi con và chị H không có yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng không xem xét.

Về tài sản chung: Anh L khai không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Anh L khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Anh Trần Duy L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Xét ý kiến và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.

- 4 -

- Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Duy L.

Về tình cảm: Anh Trần Duy L được ly hôn với chị Nguyễn Thị H.

Về con chung: Giao cháu Trần Minh Q, sinh ngày 09/02/2017 cho chị Nguyễn Thị H nuôi dưỡng cho đến khi cháu Q đủ 18 tuổi, lao động được.

Anh Trần Duy L được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau khi ly hôn. Trường hợp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.

Về án phí: Anh Trần Duy L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009124 ngày 14/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, do vậy anh L đã nộp xong án phí.

Báo nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ