- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Anh A khởi kiện yêu cầu thay đổi quyền nuôi con, cho anh A được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con là Tạ Ngọc Cát T1, sinh…"
- Tòa quyết gì? của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 76/2024/HNGĐ-ST Ngày 10-10-2024 V/v tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Thanh Hương.
2. Bà Bùi Thị Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Thị Thảo Vy là Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh
tham gia phiên tòa: Bà Võ Lê Trúc Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tây
Ninh, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 339/2024/TLST-
HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024 về “tranh chấp về thay đổi người trực tiếp
nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
79/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Tạ Ngọc A, sinh năm 1987; nơi cư trú: Khu phố X,
phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú hiện nay: Khu phố X, phường L,
thị xã H, tỉnh Tây Ninh. (Có mặt)
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Hòa
Thái S là Luật sư của Văn phòng luật sư Lê Sơn An Phúc thuộc Đoàn Luật sư
tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1994; nơi cư trú: Ấp T, xã M,
thành phố T, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 07/6/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và
tại phiên tòa nguyên đơn anh Tạ Ngọc A trình bày:
Anh và chị Nguyễn Thị T đã thuận tình ly hôn và được Tòa án nhân dân
huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh (nay là Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh) công nhận theo Quyết định số 386/2017/QĐST-HNGĐ ngày 16/11/2017. Về con chung, anh và chị T thỏa thuận giao cháu Tạ Ngọc Cát T1, sinh ngày 17/01/2017 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; anh không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Anh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Anh yêu cầu thay đổi quyền nuôi con, cho anh được quyền trông nom, chăm
sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con là Tạ Ngọc Cát T1, sinh ngày 17/01/2017; không yêu cầu chị T cấp dưỡng. Lý do yêu cầu: Thời gian đầu chị T vẫn cho anh thăm nom con bình thường. Khoảng hơn 01 năm trở lại đây, chị T và gia đình cản trở việc thăm nom con của anh, gây khó khăn trong việc thăm con. Chị T không có công việc ổn định, mặc dù chị T không yêu cầu anh cấp dưỡng nhưng anh vẫn chu cấp tiền, thức ăn và tiền thuốc khi có nhu cầu, những đồ vật dụng, chị T có đến cửa hàng của anh để xin rau củ quả. Ngày 05/5/2024, chị T báo với anh là lấy chồng Trung Quốc, yêu cầu anh ký giấy cho con xuất cảnh đi Trung Quốc, anh không đồng ý, chị T tự ý đưa con đi Trung Quốc. Hiện anh không biết bé ra sao, trong khi chị T chưa có công việc ổn định, chưa có gia đình ổn định. Mặc dù, quyền nuôi con của chị T nhưng con là con chung, cá nhân chị T không được tự ý quyết định đưa con đi nước ngoài.
Từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập chị Nguyễn Thị T đến
để giải quyết vụ án nhưng chị Nguyễn Thị T đều vắng mặt không rõ lý do cũng như không nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh phát
biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến khi giải quyết vụ án. Các
đương sự chấp hành đầy đủ các quy định pháp luật trong quá trình tham gia tố
tụng.
- Về nội dung:
+ Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh
Tạ Ngọc A đối với chị Nguyễn Thị Thuỳ về việc yêu cầu thay đổi người trực
tiếp nuôi con sau khi ly hôn đối với cháu Tạ Ngọc Cát T1, sinh ngày 17/01/2017.
+ Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện
kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị T là bị đơn, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ
nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không rõ lý do, ông S là người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị
Tòa án xét xử vắng mặt; theo khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân
sự, Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để xét xử vắng mặt
đương sự.
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Anh A khởi kiện yêu
cầu thay đổi quyền nuôi con, cho anh A được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục con là Tạ Ngọc Cát T1, sinh ngày 17/01/2017; không yêu cầu chị
T cấp dưỡng; chị T cư trú tại thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Đây là tranh
chấp về hôn nhân và gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân
dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh theo quy định tại khoản 3 Điều 28, điểm
a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Anh A khởi kiện để thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
nhưng không cung cấp chứng cứ chứng minh anh A đủ điều kiện để nuôi con;
chị T không còn đủ điều kiện nuôi con theo khoản 2 Điều 84 Luật Hôn nhân và
gia đình.
Theo biên bản xác minh Công an xã Bình Minh, thành phố Tây
Ninh, tỉnh Tây Ninh ngày 12/7/2024 (bút lục 41); biên bản xác minh tại Phòng
Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh Tây Ninh ngày 12/7/2024 (bút lục 44) và ngày 10/10/2024 (bút lục 124); biên bản xác minh cán bộ tư pháp - hộ tịch Ủy ban nhân dân xã Bình Minh, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh (bút lục 70); biên bản xác minh bà Đoàn Thị P ngày 20/8/2024 (bút lục 72-73) và ngày 08/10/2024 (bút lục 123): Chị T và cháu T1, bà Đoàn Thị P thường trú tại ấp T, xã M, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; ngày 28/6/2024 (sau khi Tòa án thụ lý), chị T và cháu T1 đã xuất cảnh đến Trung Quốc.
Anh A cho rằng chị T không còn đủ điều kiện nuôi con nhưng theo
biên bản xác minh bà Lê Thị L ngày 19/8/2024 (bút lục 69); biên bản xác minh Trưởng ấp Bình Trung, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh ngày 20/8/2024 (bút lục 71); biên bản xác minh bà Đoàn Thị P ngày 20/8/2024 (bút lục 72-73) và ngày 08/10/2024 (bút lục 123); biên bản xác minh bà Võ Thị C ngày 20/8/2024 (bút lục 74) thì chị T có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, không có việc chị T và gia đình ngăn cản anh A thăm con. Hiện nay, chị T đi nước ngoài (Trung Quốc) nhưng vẫn đưa cháu T1 cùng đi để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu T1, vẫn chăm sóc tốt cho cháu T1.
Hiện nay cháu T1 đã 07 tuổi nhưng đã đi cùng với chị T sang Trung
Quốc nên Tòa án không lấy ý kiến của cháu T1.
Xét thấy, chị T và anh A không có thỏa thuận thay đổi người trực
tiếp nuôi con sau khi ly hôn; từ khi ly hôn (lúc cháu T1 khoảng 11 tháng tuổi) đến nay, cháu T1 sống chung với chị T ổn định, hơn nữa cháu T1 là con gái, việc giao A nuôi dưỡng sẽ làm thay đổi môi trường sống của con chung, không ổn định về tâm sinh lý, không đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu T1; mặt khác, chị T đi nước ngoài và vẫn đưa cháu T1 đi cùng, hơn nữa anh A không có căn cứ chứng minh hiện nay chị T không còn đủ điều kiện nuôi con nên căn cứ Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của anh Tạ Ngọc A về việc yêu cầu được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Tạ Ngọc Cát T1, sinh ngày 17/01/2017.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Do yêu cầu của anh A không được chấp nhận nên anh A phải chịu
án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng; chị T không phải chịu
án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia
đình;
Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện thay đổi người trực tiếp nuôi con
sau khi ly hôn của anh Tạ Ngọc A về việc yêu cầu được quyền trông nom, chăm
sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Tạ Ngọc Cát T1, sinh ngày 17/01/2017.
2. Về án phí:
Anh Tạ Ngọc A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm
nghìn) đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (ba trăm nghìn)
đồng theo biên lai thu số 0002966 ngày 17/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân
sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Anh Tạ Ngọc A đã nộp đủ án phí dân sự
sơ thẩm.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành
án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật
Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV. TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND thành phố Tây Ninh; - Chi cục THADS thành phố Tây Ninh; - Đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Thị Thanh Hằng |