vanban.org

Bản án 76/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Cầu Giấy, TP. Hà Nội Tuyên án 04/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: khoản 1 Điều 173 ;Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự năm 2015; các Điều 136; 331; 333 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/01/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn S phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 1 Điều 173 ;Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự năm 2015; các Điều 136; 331; 333 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. HÀ NỘI
TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. CẦU GIẤY
Bản án số: 76/2023/HSST
Ngày 04 tháng 5 năm 2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Huy

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Trọng Dĩu.

2. Ông Nguyễn Huy Dũng.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thanh Bình – Thư ký Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy tham gia phiên tòa: Bà Vũ Lan Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 59/2023/HSST ngày 03/4/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn S, sinh ngày 13/01/1999; HKĐKTT: Thôn 4 VT, xã TH, huyện NQ, tỉnh Ninh Bình; Nơi ở: Lang thang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa 07/12; Con ông: Nguyễn Văn T sinh năm 1969; Con bà: Màn Thị P – sinh năm 1969 (đã mất).

Danh chỉ bản số 089 lập ngày 18 tháng 01 năm 2023 tại Công An quận Cầu Giấy.

Tiền án, tiền sự: Không, Nhân thân: 03 tiền án (đã xóa)

Bản án số 74/HSST ngày 25/11/2016, Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, Ninh Bình xử 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự 1999. Ra trại ngày 12/5/2017 (đã nộp án phí theo biên lai thu tiền số 0000171 ngày 25/11/2016. (Đã xóa)

Bản án số 40/HSST ngày 21/6/2018, Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, Ninh Bình xử 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự 1999. Ra trại ngày 25/11/2018 (đã nộp án phí theo biên lai thu tiền số 0000947 ngày 28/9/2018. (Đã xóa)

Bản án số 102/HSST ngày 26/11/2019, Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, Ninh Bình xử 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015. Ra trại ngày 17/10/2020 (đã nộp án phí theo biên lai thu tiền số 0001941 ngày 13/01/2020. (Đã xóa)

Bị cáo bị quả tang ngày 16/01/2023 và bị tạm giữ ngày 17/01/2023. Hiện bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố Hà Nội.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Chị Phạm Trần MA – sinh năm 2005.

Người đại diện hợp pháp: Bà Viết Thị L, mẹ đẻ cháu MA.

HKTT: Toà nhà CT2B, CC X – Q, phường X, N, Hà Nội. (bà L và cháu MA có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :

Do không có nghề nghiệp và không có tiền tiêu sài cá nhân nên Nguyễn Văn S nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng 18 giờ 00 ngày 16/01/2023, S một mình đi bộ đến khu vực chợ NX trên phố PT, phường DVH, C, Hà Nội, mục đích để trộm cắp tài sản. Khoảng 22 giờ 10 phút cùng ngày, S đang đứng ở lòng đường XT đoạn gần ngõ 130 XT thì chị Phạm Trần MA điều khiển xe đạp điện chở chị Trần Khánh Linh từ phía sau đi lên hướng TM. S nhìn thấy trong túi bên trái áo khoác của chị MA đang mặc trên người có một chiếc điện thoại di động, một phần chiếc điện thoại thò ra ngoài. Ngay lúc này, S nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại trên. Lợi dụng sơ hở khi chị MA chở chị Linh vừa đi qua chỗ S đứng khoảng 02 mét, S từ phía sau tiến đến gần bên trái chị MA, dùng tay phải nhẹ nhàng lấy chiếc điện thoại trong túi áo chị MA và bỏ chạy về phía sau. Lúc này chị MA cảm giác có người vừa lén lút lấy điện thoại của mình nên sờ vào túi áo khoác trái của mình thấy không còn điện thoại, ngoảnh lại phía sau thấy S đang bỏ chạy tay cầm chiếc điện thoại giống chiếc điện thoại của mình liền hô “ trộm, trộm” và quay xe đuổi theo S. S cầm chiếc điện thoại vừa trộm được trên tay, chạy băng qua đường, sang cây xăng 173 XT nhưng thấy có người chặn đầu nên quay lại, tiếp tục chạy đến trước số 124 XT thì bị người dân và Công an phường bắt quả tang, đưa về trụ sở để làm rõ.

Tang vật thu giữ của Nguyễn Văn S: 01 điện thoại Iphone XS Max màu vàng bản quốc tế 64GB.

Theo Kết luận định giá tài sản số 34/TCKH-BBĐGHĐ ngày 17/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Cầu Giấy: 01 điện thoại Iphone XS Max màu vàng bản quốc tế 64GB đã qua sử dụng có giá trị 5.960.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, lời khai Nguyễn Văn S phù hợp với lời khai của người bị hại người L quan và những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Cơ quan điều tra đã trao trả lại cho chị Phạm Trần MA chiếc điện thoại bị S chiếm đoạt, chị MA nhận lại tài sản và không có đề nghị gì khác.

Tại bản cáo trạng số 52/CT-VKSCG ngày 30 tháng 3 năm 2023, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Cầu Giấy đề nghị truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận có hành vi Trộm cắp tài sản .

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, xét nhân thân của bị cáo đã kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38 BLHS.

Xử phạt bị cáo mức án từ 12 đến 15 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không

Về xử lý vật chứng: Không

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thấy hành vi Trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Quá trình điều tra, truy tố L quan đến đến việc giải quyết vụ án (Về hành vi, các quyết định tố tụng), Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tiến hành đúng các quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ diễn biến vụ án đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 22 giờ 10 phút ngày 16/01/2023, tại lòng đường gần ngõ 130 XT, C, Hà Nội, Nguyễn Văn S đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại Iphone XS Max màu vàng bản quốc tế 64GB của chị Phạm Trần MA, mục đích để lấy tiền tiêu sài, thì bị người dân phát hiện và bắt quả tang đưa về trụ sở Công an phường làm rõ. Tang vật của vụ án là chiếc điện thoại Iphone XS Max màu vàng bản quốc tế 64GB đã qua sử dụng có giá trị 5.960.000 đồng

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, lời khai của người bị hại, biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận định giá cùng các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn S đã đủ yếu tố cấu thành tội danh “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quan hệ sở hữu của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng 03 lần bị kết án về tội “trộm cắp tài sản” vào các năm 2016, 2018, 2019. Mặc dù các bản án này đã được xóa án, tuy nhiên điều đó thể hiện bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội. Do vậy phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Khi xem xét quyết định mức hình phạt đối với bị cáo, HĐXX xét thấy: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Bị cáo đang bị tạm giam, để đảm bảo việc thi hành án, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 109, 113, 119 và 329 của Bộ luật tố tụng hình sự, Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày (bốn mươi lăm ngày), kể từ ngày tuyên án.

Xử lý vật chứng: Không.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người đại diện của bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng: khoản 1 Điều 173 ;Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự năm 2015; các Điều 136; 331; 333 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/01/2023.

3.Về xử lý vật chứng: Không.

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn S phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại và người đại diện vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ