vanban.org

Bản án 76/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 24/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thế Dũng (tên gọi khác là Chuột) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thế Dũng 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/3/2023. Án phí: Bị cáo Nguyễn Thế Dũng phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thế Dũng (tên gọi khác là Chuột) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN X

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH B
Bản án số: 76/2023/HSST
Ngày: 24-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN X,

TỈNH B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trần Hiển

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Ngô Thị Quốc Thanh

2. Ông Trần Đình Hưởng

- Thư ký phiên tòa: Bà Danh Thị Ngọc Lệ là Thư ký Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện X tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thảo- Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 8 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện X xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 73/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Thế Dũng (tên gọi khác là Chuột), sinh năm 1999 tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ 1, ấp Bàu Ngứa, xã Tân Lâm, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thế Hùng, sinh năm 1960 và bà Phan Thị Vân, sinh năm 1964; chưa có vợ con; tiền án: Ngày 28/01/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 15/2021/HSST. Ngày 04/6/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 50/2021/HSST. Tổng hợp hình phạt chung là 30 tháng tù, chấp hành xong ngày 14/01/2023 theo Giấy chứng nhận số 41/GCN; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 24/4/2020, bị Chủ tịch UBND xã Tân Lâm, huyện Xuyên Mộc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 24/7/2020; Ngày 19/9/2015 bị Công an xã Bàu Lâm, huyện Xuyên Mộc xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” với số tiền 500.000 đồng theo Quyết định số 59/QĐ-VLVPHC; Ngày 03/02/2016, bị Công an xã Tân Lâm, huyện Xuyên Mộc xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” với số tiền 375.000 đồng theo Quyết định số 35/QĐ-VLVPHC; Ngày 06/10/2016, bị Công an xã Tân Lâm, huyện Xuyên Mộc xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” với số tiền 375.000 đồng theo Quyết định số 108/QĐ-VLVPHC; Ngày 27/3/2017, bị Công an xã Tân Lâm, huyện Xuyên Mộc xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” với số tiền 500.000 đồng theo Quyết định số 33/QĐ-VLVPH; Ngày 29/5/2017, bị Chủ tịch UBND xã Tân Lâm, huyện Xuyên Mộc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” thời hạn 03 tháng theo Quyết định số 41/QĐ-UBND; Ngày 30/11/2017, bị TAND huyện Xuyên Mộc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 20 tháng theo Quyết định số 62/QĐ-TA; bị tạm giam ngày 02/3/2023 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Xuyên Mộc. Có mặt

Bị hại:

- Ông Nguyễn Ngọc Ánh, sinh năm 1979. Trú tại: Ấp 3B, xã Bàu Lâm, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Có mặt

- Chị Nguyễn Thị Minh Nguyệt, sinh năm 2004. Trú tại: Ấp 3B, xã Bàu Lâm, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Có mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Anh Bùi Xuân Khương, sinh năm 2000. Trú tại: Ấp Thạnh Sơn 1A, xã Phước Thuận, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Vắng mặt

- Bà Phan Thị Vân, sinh năm 1964. Trú tại: Tổ 1, ấp Bàu Ngứa, xã Tân Lâm, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 26/02/2023, Lê Bá Ngọc ở nhà của Nguyễn Cang Trường ở ấp Tân An, xã Phước Tân, huyện Xuyên Mộc và điện thoại rủ Nguyễn Thế Dũng đến chơi, Dũng chạy xe mô tô, nhãn hiệu Wave RSX, biển số 72G1-366.63, màu đỏ-đen của bà Phan Thị Vân (mẹ Dũng) đến. Tại đây, Ngọc và Dũng ngồi nói chuyện thì Ngọc rủ Dũng đi trộm xe mô tô để lấy tiền tiêu xài, Dũng đồng ý. Ngọc lấy 01 biển số giả (không rõ số) thay biển số 72G1-366.63, Dũng nhặt một cây lục giác bằng kim loại gần nhà Trường rồi mài dẹp hai bên làm đoản phá khóa. Sau đó, Ngọc chở Dũng đến đường nông thôn thuộc ấp Thạnh Sơn 1A, xã Phước Thuận, huyện Xuyên Mộc thì cả hai phát hiện 01 xe mô tô biển số 72G1-836.73, nhãn hiệu Honda Vario, màu trắng của chị Nguyễn Thị Minh Nguyệt dựng trước phòng trọ, Ngọc dừng xe đứng cảnh giới, Dũng đi bộ đến dùng đoản phá khóa xe thì đoản bị gãy nên Dũng hỏi Ngọc “Có đẩy xe được không”, Ngọc trả lời “được” nên Dũng vào dắt xe ra đường ngồi lên xe để Ngọc dùng chân đẩy về khu vực Đội 3, ấp Tân An, xã Phước Tân, huyện Xuyên Mộc. Sau đó, Dũng chạy xe mình về nhà, còn Ngọc đẩy xe trộm cắp vào lô cao su thuộc ấp Tân An, xã Phước Tân, huyện Xuyên Mộc cất giấu và tháo biển số đem về nhà cất giấu. Ngày 24/02/2023, Ngọc cùng một số đối tượng khác thực hiện hành vi cướp giật tài sản tại ấp Bình Thắng, xã Bình Châu, huyện Xuyên Mộc. Đến ngày 27/02/2023, Cơ quan Công an mời Ngọc lên làm việc, Ngọc khai cùng Dũng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 26/02/2023.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về hành vi phạm tội của mình và thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Thế Dũng đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”

Về kết luận định giá tài sản: Tại Bản kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐG ngày 06/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Xuyên Mộc kết luận giá trị chiếc xe mô tô Honda Vario, biển số 72G1-836.73 trị giá là 43.500.000 đồng (bút lục số 64).

Về xử lý vật chứng: Chiếc xe mô tô Honda Vario, biển số 72G1-836.73 đã trả lại cho ông Nguyễn Ngọc Ánh; chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX, biển số 72G1-366.63, màu đỏ-đen đã trả lại cho bà Phan Thị Vân; đoản phá khóa và biển số giả Dũng đã vứt bỏ nên không thu hồi được.

Về bồi thường thiệt hại: Chị Nguyệt, ông Ánh không yêu cầu Nguyễn Thế Dũng bồi thường thiệt hại.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có yêu cầu gì về xử lý vật chứng; Kiểm sát viên không có yêu cầu xử lý vật chứng.

Tại Bản cáo trạng số 70/CT-VKS, ngày 27-7-2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc truy tố Nguyễn Thế Dũng về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2, Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế Dũng phạm tội “Trộm cắp tài sản”; đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là tiền.

Đối với Lê Bá Ngọc ngoài thực hiện hành vi trộm cắp với Dũng, Ngọc còn tham gia nhiều vụ cướp giật tài sản cùng với các bị can Nguyễn Cang Trường, Nguyễn Minh Nhật, Trần Thái Bình, Cơ quan điều tra đã khởi tố, tạm giam. Do thời hạn điều tra và tạm giam của Dũng đã hết nên Cơ quan điều tra tách hành vi trộm cắp tài sản của Dũng ra xử lý trước.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Thế Dũng: Bị cáo biết hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật. Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình phụ giúp cha mẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Xuyên Mộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo, xét thấy: Khoảng 17 giờ 30 ngày 26/02/2023, Lê Bá Ngọc và bị cáo Dũng lén lút chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Minh Nguyệt 01 chiếc xe mô tô biển số 72G1-836.73 tại khu vực ấp Thạnh Sơn 1A, xã Phước Thuận, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu trị giá 43.500.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, Cáo trạng số 70/CT-VKS, ngày 27-7-2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2, Điều 173 của Bộ luật hình sự với tình tiết định khung là tái phạm nguy hiểm.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, với lý do: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2021/HS-ST ngày 28/01/2021, Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt bị cáo 01 năm tù về hành vi trộm cắp tài sản ngày 06/9/2020. Đến ngày 04/6/2021, Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xử phạt bị cáo 18 tháng tù về hành vi trộm cắp tài sản ngày 09/9/2020 (Bản án số 50/2021/HS-ST) và áp dụng tình tiết tái phạm. Tổng hợp hình phạt là 30 tháng tù. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 53 Bộ luật hình sự “Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý…”. Như vậy, hành vi bị cáo thực hiện ngày 09/9/2020 không thuộc trường hợp tái phạm. Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc truy tố bị cáo theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự với tình tiết định khung là tái phạm nguy hiểm là chưa chính xác nên Kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên nhận định và rút một phần quyết định truy tố như đã nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự đối với bị cáo là có căn cứ nên chấp nhận.

Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy bị cáo đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất an ninh, trật tự, an toàn tại địa phương; bản thân bị cáo đã nhiều lần phạm tội trộm cắp tài sản và nhiều lần bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nên cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù cách ly ra ngoài xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về đồng phạm: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với Ngọc không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ cụ thể nên được xem là đồng phạm giản đơn, trong đó Ngọc là người rủ rê, bị cáo với vai trò giúp sức và trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục phạm tội nên thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có việc làm, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là tiền đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự và không xử phạt bổ sung là tiền đối với bị cáo là có căn cứ nên chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: Chiếc xe mô tô Honda Vario, biển số 72G1-836.73 đã trả lại cho ông Ánh; chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX, biển số 72G1-366.63, màu đỏ-đen đã trả lại cho bà Vân; đoản phá khóa và biển số giả bị cáo đã vứt bỏ, không thu hồi được nên không xem xét.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị không xem xét xử lý vật chứng là có căn cứ nên chấp nhận.

Về bồi thường thiệt hại: Chị Nguyệt, ông Ánh không yêu cầu nên không xem xét.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị không xem xét về bồi thường thiệt hại là có căn cứ nên chấp nhận.

Đối với Lê Bá Ngọc ngoài thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với bị cáo Dũng, còn tham gia nhiều vụ cướp giật tài sản với các bị can Nguyễn Cang Trường, Nguyễn Minh Nhật, Trần Thái Bình đã bị Cơ quan điều tra khởi tố, tạm giam. Do thời hạn điều tra và tạm giam của bị cáo Dũng đã hết nên Cơ quan điều tra tách hành vi trộm cắp tài sản và cướp giật tài sản của Ngọc cùng với các bị can Trường, Nhật, Bình để tiếp tục điều tra trong vụ án khác nên không xem xét hành vi của Ngọc trong vụ án này.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thế Dũng (tên gọi khác là Chuột) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thế Dũng 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/3/2023.

Án phí: Bị cáo Nguyễn Thế Dũng phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ