- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Đình C - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 76/2023/HSST Ngày: 24-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lệ Quyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đình Phương.
2. Ông Nguyễn Văn Sang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hồng Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định và Nhà tạm giữ Công an huyện T, Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 210/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Đình C, sinh năm 1983, tại tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Số nhà C T, phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hải  (chết) và bà Tô Thị C1 (chết); có vợ nhưng đã ly hôn và có 02 con; tiền án; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 04 tháng 8 năm 2011, bị Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 06 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 15 tháng 10 năm 2011; Ngày 06 tháng 9 năm 2018, bị Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 20 tháng 9 năm 2018, bị Công an huyện T, tỉnh Bình Định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Ngày 15 tháng 7 năm 2019, bị Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chuyển đổi hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Nguyễn Đình C tại Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2018/HS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định mà bị cáo chưa chấp hành là 04 tháng 12 ngày thành 01 tháng 14 ngày tù. Tổng hợp hình phạt của hai bản án buộc Nguyễn Đình C phải chấp hành 10 tháng 14 ngày tù; chấp hành xong hình phạt tù ngày 29 tháng 02 năm 2020; bị cáo bị tạm giam từ ngày 26 tháng 5 năm 2023 đến nay; có mặt.
Bị hại: Ông Nguyễn Trần T, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1976; địa chỉ: Xóm C, thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định; vắng mặt. Người làm chứng:
01. Ông Nguyễn B, sinh năm 1952; vắng mặt.
02. Ông Đinh Hồng S, sinh năm 1963; vắng mặt.
03. Ông Lê B1, sinh năm 1973; vắng mặt;
04. Ông Huỳnh Văn S1, sinh năm 1982; vắng mặt;
05. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1963; vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do thiếu tiền tiêu xài nên vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 30 tháng 4 năm 2022, Nguyễn Đình C mượn xe gắn máy hiệu Honda CUB, màu xanh, biển số 77-594-BX của ông Nguyễn Đình Q đi dạo tìm kiếm tài sản sơ hở của người dân để trộm cắp. Khi đi đến nhà ông Nguyễn B ở thôn X, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, C thấy nhà không có người, cổng mở, bên hông nhà có vườn cây cảnh của ông Nguyễn Trần T nên C lén lút đi vào lấy trộm 01 cây sam trái, dáng đổ, hoành gốc 20cm, tàn đổ 90cm, cao 25cm đem ra ngoài, rồi để lên phía sau xe gắn máy chở đi tìm nơi tiêu thụ. Khi đi đến gần Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Bình Định, C gặp ông Huỳnh Hữu T2 đứng xem cây nên C ngỏ ý muốn bán cây cảnh vừa trộm được cho ông T2 nhưng ông T2 không mua nên đã gọi cho ông Nguyễn Minh T1 đến để xem và mua cây. Sau đó, ông T1 đi đến mua cây sam trái nói trên với giá 800.000 đồng. Số tiền bán được cây, C đã tiêu xài cá nhân hết. Qua điều tra, Nguyễn Đình C đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình như đã nêu trên.
Theo Kết luận định giá tài sản số 247/KL-HĐĐGTS ngày 24/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận thì 01 cây sam trái, dáng đổ, hoành gốc 20cm, tàn đổ 90cm, chiều cao tính từ mặt chậu lên là 25cm tại thời điểm bị xâm phạm có giá trị thành tiền là 18.000.000 đồng.
Về tạm giữ và xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tạm giữ và xử lý vật chứng trả lại cây sam trái nêu trên cho ông Nguyễn Trần T.
Về dân sự: Ông Nguyễn Trần T và ông Nguyễn Minh T1 không yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Tại Cáo trạng số 78/CT-VKS-TP ngày 14 tháng 7 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phân tích lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, của người làm chứng, các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Đình C đã phạm vào tội như tại cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều khoản để quyết định hình phạt đối với bị cáo, cụ thể:
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đình C từ 15 đến 18 tháng tù. Về hình phạt bổ sung đề nghị không áp dụng.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với các vật chứng vụ án được thu giữ, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát thu thập đã được thẩm tra tại phiên tòa nên có đầy đủ căn cứ xác định: Nguyễn Đình C là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã nhiều lần bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” nên biết rõ việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vào ngày 30/4/2022, tại thôn X, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, Nguyễn Đình C đã có hành vi lén lút trộm cắp của ông Nguyễn Trần T 01 cây sam trái, dáng đổ, hoành gốc 20cm, tàn đổ 90cm, chiều cao tính từ mặt chậu lên là 25cm trị giá tại thời điểm bị xâm phạm theo kết luận định giá tài sản là 18.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo khai báo thành khẩn là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xét tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người có khả năng nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, nhận thức được hậu quả của hành vi đó là xâm phạm đến tài sản của người khác. Nhận thức được vậy, nhưng vì lười lao động lại muốn có tiền để tiêu xài nên bị cáo vẫn thực hiện. Bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị xử phạt tù nhưng không biết ăn năn hối cải. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần răng đe, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tạm giữ và xử lý vật chứng trả lại cây sam trái cho ông Nguyễn Trần T và bị hại ông Nguyễn Trần T không yêu cầu bồi thường gì nữa nên Hội đồng xét xử không xét. Ông Nguyễn Minh T1 mua chậu sam trái của bị cáo với số tiền 800.000 đồng, công an thu giữ tài sản trả lại cho bị hại nhưng ông T1 không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 800.000 đồng cho ông nên Hội đồng xét xử không xét.
Đối với ông Nguyễn Đình Q là người cho Nguyễn Đình C mượn xe gắn máy hiệu Honda CUB, màu xanh, biển số 77-594-BX vào ngày 30/4/2022, nhưng khi C sử dụng chiếc xe này làm phương tiện phạm tội ông Q không biết; ông Nguyễn Minh T1 là người đã mua cây sam cảnh từ Nguyễn Đình C, nhưng khi mua ông T1 không biết cây sam cảnh mà C bán cho mình là do C phạm tội mà có; ông Huỳnh Hữu T2 là người đã giới thiệu cho ông Nguyễn Minh T1 đến mua cây sam cảnh của Nguyễn Đình C, nhưng ông T2 không biết cây sam cảnh mà mình giới thiệu cho ông T1 mua là do C phạm tội mà có. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không xử lý hình sự đối với ông Nguyễn Đình Q, Nguyễn Minh T1 và Huỳnh Hữu T2 là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình C 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26 tháng 5 năm 2023.
2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đình C phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - VKSND huyện Tuy Phước; - VKSND tỉnh Bình Định; - CQ CSĐT Công an H.Tuy Phước; - CC THADS huyện Tuy Phước; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Lệ Quyên |