vanban.org

Bản án 76/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 08/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Võ Thanh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Võ Thanh P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18-7-2023. Xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "VÕ THANH P - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Thanh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN BIÊN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2023/HS-ST
Ngày 08-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thanh Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Bạch Tuyết;

2. Ông Phan Văn Thà.

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Trung Lợi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Lâm Hà Thuyên - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự thụ lý số: 68/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2023/QĐXXST - HS ngày 23 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Võ Thanh P, sinh năm 1991 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn C và bà Võ Thị H (đã chết); vợ, con: chưa có; tiền án:

+ Bản án hình sự sơ thẩm số: 35/2019/HSST ngày 21-5-2019 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Võ Thanh P 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong bản án ngày 21-11-2019, chưa được xóa án tích;

+ Bản án hình sự sơ thẩm số: 60/2020/HSST ngày 18-9-2020, Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Võ Thanh P 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 04-9-2021, chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 853 ngày 15-12-2021 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh về việc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian 15 tháng, chấp hành xong ngày 01-01-2023, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18-7-2023, chuyển tạm giam từ ngày 21-7-2023 cho đến nay; có mặt.

- Bị hại: anh Trương Văn P1, sinh năm 1975; nơi đăng ký thường trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú hiện nay: tổ H, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: anh Nguyễn Văn C1, sinh năm 1984; nơi cư trú: Khu phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 17-7-2023, Võ Thanh P đang ở nhà thì Nguyễn Văn H1 chạy ngang hỏi tìm nhà người quen tên Trương Văn P1, sau khi được P dẫn đến nhà của P1 thì H1 và P được P1 mời ở lại ăn uống, do đã có uống rượu trước đó nên P bị say rượu và xin P1 ra võng phía sau nhà P1 ngủ. Đến khoảng 17 giờ, P tỉnh dậy đi về, khi đi ngang phòng ngủ nhà P1, P phát hiện 02 điện thoại di động gồm 01 điện thoại Oppo A53 và 01 điện thoại Samsung Galaxy A20s để trên giường nên đã nảy sinh ý định lấy trộm 02 điện thoại bỏ vào trong túi quần rồi đi về. Khi về P đem bán điện thoại Oppo A53 ở tiệm Đ tại khu vực thị trấn T do Nguyễn Văn C1 làm chủ. Khi bán P nói điện thoại của vợ nên chủ tiệm đồng ý mua với giá 1.700.000 đồng; điện thoại Samsung P2 để lại sử dụng. Ngày 18-7-2023, P2 bị phát hiện và thu giữ 01 chiếc điện thoại Samsung bị trộm.

* Kết quả định giá tài sản: Kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐGTS ngày 19-7-2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh kết luận:

- 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A20s, màu đen, số imei 1: 353248111182307, số emei 2: 353249111182305, đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá có giá trị 2.400.000 đồng;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A53, màu xanh, số imei 1: 862326054933433, số emei 2: 862326054933425, đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá có giá trị 2.700.000 đồng.

* Kết luận giám định: Kết luận giám định số 1426/KLGĐ-KTHS ngày 19-9-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu đỏ, số máy: VTT44JL1P52FMH001492, số khung: RRKWCH2UM7XL01492, số máy và số khung không bị đục xóa.

* Kết quả kê biên tài sản: Võ Thanh P không có tài sản riêng có giá trị nên không tiến hành kê biên.

* Về trách nhiệm dân sự:

Anh Trương Văn P1 đã nhận lại tài sản bị mất trộm, không yêu cầu bồi thường.

Anh Nguyễn Văn C1 yêu cầu Võ Thanh P trả lại số tiền 1.700.000 đồng đã đưa cho P khi mua lại 01 chiếc điện thoại.

Bản cáo trạng số 67/CT-VKSTB, ngày 10 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Võ Thanh P về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ Thanh P phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự và đề nghị:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Võ Thanh P từ 02 (hai) năm tù đến 03 (ba) năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

* Bồi thường thiệt hại: căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự và Điều 589 của Bộ luật Dân sự.

Ghi nhận bị hại anh Trương Văn P1 đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, không yêu cầu bị cáo Võ Thanh P bồi thường thiệt hại.

Buộc bị cáo Võ Thanh P bồi thường cho anh Nguyễn Văn C1 số tiền 1.700.000 đồng.

* Về xử lý vật chứng: căn cứ các Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị: xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Bị cáo Võ Thanh P thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã truy tố và không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo Võ Thanh P không nói lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hành vi của bị cáo thể hiện như sau: vào khoảng 17 giờ ngày 17-7-2023, tại nhà của anh Trương Văn P1 thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, Võ Thanh P đã lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A20s và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A53 của anh P1, có tổng giá trị là 5.100.000 đồng nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài. Đến ngày 18-7-2023 bị phát hiện, hành vi của bị cáo Võ Thanh P đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo P đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng“Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Cáo trạng số 67/CT-VKSTB, ngày 10-10-2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo P và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.

Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo P là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ đồng thời gây mất trật tự tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng Nhân dân. Khi thực hiện hành vi bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, nên cần có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân đối với bị cáo.

4.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

4.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo P đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Hình phạt áp dụng: bị cáo P nhiều lần bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, sau khi chấp hành án xong bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân để sống có ích cho gia đình và xã hội, mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, điều này thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo rất kém. Do đó, cần xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời phục vụ cho công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

Bị cáo không có tài sản bị kê biên nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Bồi thường thiệt hại:

6.1. Bị hại Trương Văn P1 đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, không yêu cầu bị cáo P bồi thường thiệt hại, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

6.2. Anh Nguyễn Văn C1 yêu cầu bị cáo P bồi thường số tiền 1.700.000 đồng là tiền anh sử dụng mua lại chiếc điện thoại hiệu Oppo A53 do bị cáo P trộm cắp của anh P1, bị cáo P đồng ý bồi thường số tiền này cho anh C1, căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 589 Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về xử lý vật chứng:

7.1. 01 (một) biển số xe 70B1 – 167.89 xác định là biển số xe giả, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

7.2. 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu đỏ, số máy: VTT44JL1P52FMH001492, số khung: RRKWCH2UM7XL01492 đã giám định xác định số máy và số khung không bị đục xóa và 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 150, số seri 1: 357748101534702, màu đen là tài sản của bị cáo P không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo P, nhưng giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Kiến nghị Công an huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xử lý hành chính đối với bị cáo P về hành vi sử dụng xe mô tô nhưng không có giấy tờ hợp lệ.

Về án phí: bị cáo P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và các Điều 23, 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Võ Thanh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Võ Thanh P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18-7-2023.

2. Xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) biển số xe 70B1 – 167.89 (biển số xe giả).

- Trả cho bị cáo Võ Thanh P 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu đỏ, số máy: VTT44JL1P52FMH001492, số khung: RRKWCH2UM7XL01492 đã giám định xác định số máy, số khung không bị đục xóa (kèm theo Kết luận giám định và bản ảnh giám định bản gốc) và 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 150, số seri 1: 357748101534702, màu đen, nhưng giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Kiến nghị Công an huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xử lý hành chính đối với bị cáo P về hành vi sử dụng xe mô tô nhưng không có giấy tờ hợp lệ.

(Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12-10-2023).

3. Về trách nhiệm dân sự: căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự và Điều 589 của Bộ luật Dân sự:

Buộc bị cáo Võ Thanh P có nghĩa vụ bồi thường cho anh Nguyễn Văn C1 số tiền 1.700.000 (một triệu bảy trăm nghìn) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Về án phí: căn cứ các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và các Điều 23, 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Võ Thanh P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo Võ Thanh P có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại anh Trương Văn P1 vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Nguyễn Văn C1 vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan đến quyền và lợi ích của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ