- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Hoàng P phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 76/2023/HS-ST Ngày 26 – 9 – 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hoàng Tiến
2. Ông Trần Văn Tám
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Kim Huyền – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tâm – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 75/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Hoàng P, sinh năm 1999 tại tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú: Khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị Ngọc H.
Tiền án: có 03 tiền án.
Ngày 05/5/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Ngày 25/6/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tổng hợp hình phạt tại bản án của Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn buộc bị cáo Nguyễn Hoàng P chấp hành hình phạt chung là 01 năm 09 tháng tù, chấp hành xong ngày 14/9/2021.
Ngày 07/3/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 26/11/2015, bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 19/5/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
Bị cáo đang chấp hành án tại Trại tạm giam Công an tỉnh V (ngày chấp hành án 07/6/2023) – có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1955; nơi cư trú: ấp H, xã X, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 29/5/2023, Nguyễn Hoàng P điều khiển xe mô tô mang biển số 64H8 - 9296 đến ngã tư ông Đ1 để rước bạn tên Nguyễn Minh H1, sinh năm 1998, ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long đến nhà anh T1 tại khóm B, thị trấn T chơi. Trên đường đi về thì P dừng xe lại cho H1 xuống đứng đợi P để P đem xe về nhà cất. Khi đi ngang qua tiệm sửa máy xăng dầu Bảy của ông Nguyễn Văn Đ thuộc khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long P nhìn thấy bên ngoài khóa cửa bên trong không có người trông coi nên P nảy sinh ý định lấy trộm tài sản và không cho H1 biết. P về nhà lấy một cây kiềm bấm bằng kim loại và một thanh kim loại rồi quay lại phá ổ khóa cửa. P mở cửa đi vào bên trong thì thấy có nhiều máy xăng để trên nền nhà, P sợ người đi đường phát hiện nên P khép cửa lại và lén lút lấy trộm 05 cái máy xăng hiệu Honda và 01 cái máy xăng hiệu M đem ra cửa sau và nhờ H1 cùng chuyển 06 cái máy đem về nhà P cất giấu.
Tang vật thu giữ gồm:
- 05 máy xăng nhãn hiệu Honda, công suất 5.5HP.
- 01 máy xăng hiệu Mitsubishi công suất 5.5HP.
- 01 xe mô tô biển kiểm soát 64H8 - 9296.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 19/KL.ĐGTS ngày 16/6/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T kết luận:
- 05 máy xăng nhãn hiệu Honda, công suất 5.5HP đã qua sử dụng có giá bình quân trên thị trường 1.450.000đồng/máy x 5 máy là 7.250.000 đồng.
- 01 máy xăng hiệu Mitsubishi công suất 5.5HP đã qua sử dụng có giá bình quân trên thị trường là 1.450.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản định giá: 8.750.000 đồng (Tám triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng).
Việc thu giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:
Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định xử lý vật chứng: Trả lại cho ông Nguyễn Văn Đ gồm: 05 máy xăng nhãn hiệu Honda, công suất 5.5HP và 01 máy xăng hiệu Mitsubishi công suất 5.5HP;
Đối với xe mô tô mang biển số 64H8 - 9269 không có liên quan đến vụ án nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho ông Nguyễn Văn P1.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Văn Đ đã nhận lại 05 máy xăng nhãn hiệu Honda, công suất 5.5HP và 01 máy xăng hiệu Mitsubishi công suất 5.5HP và không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự.
Tại Cáo trạng số: 77/CT-VKSTB ngày 22/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng P về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Hoàng P thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình truy tố bị cáo là đúng hành vi, không oan.
Đối với Nguyễn Minh H1 không thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản cùng Nguyễn Hoàng P. Ngoài lời khai của P không ai xác định được H1 tham gia trộm cắp tài sản. Do đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T không đề cặp xử lý Nguyễn Minh H1 là có căn cứ.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Hoàng P về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng cho bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P mức án từ 04 (Bốn) năm đến 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt 02 năm 06 tháng tù tại Bản án số 11/2023/HS-ST ngày 07/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, buộc bị cáo P phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng đến 07 (Bảy) năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu gì thêm nên không xem xét giải quyết.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án:
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản hỏi cung bị can cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa thể hiện: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 29/5/2023, tại tiệm S1 thuộc khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long Nguyễn Hoàng Phúc lợi dụng đêm khuya và không có người trông coi tài sản nên có hành vi lén lút lấy trộm 05 cái máy xăng hiệu Honda và 01 cái máy xăng hiệu Mitsubishi có giá trị là 8.750.000 đồng (Tám triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng) của ông Nguyễn Văn Đ nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật và có căn cứ.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bản thân bị cáo có sức khỏe lại không chịu chí thú làm ăn. Bị cáo với thái độ thích thụ hưởng, lười lao động để có tiền phục vụ tiêu xài cá nhân, bị cáo đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Bị cáo có nhân thân xấu, đã chấp hành 03 Bản án hình phạt tù nhưng không sửa đổi. Trong thời gian đợi thi hành bản án trộm cắp tài sản, bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trong vụ án khác. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự an Tòan xã hội ở địa phương. Vì vậy, cần xử lý bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội và ngăn chặn những trường hợp tương tự có thể xảy ra.
Về tổng hợp hình phạt: Tổng hợp hình phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2023/HS-ST ngày 07/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long với hình phạt về tội “Trộm cắp tài sản” trong vụ án này, buộc bị cáo P chấp hành hình phạt chung của hai bản án theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Văn Đ không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.
Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo P phải nộp tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
1.1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1.2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P 04 (Bốn) năm tù.
1.3 Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2023/HS-ST ngày 07/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, buộc bị cáo P phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 07/6/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Văn Đ không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng P phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKSND tỉnh Vĩnh Long; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long; - Phòng hồ sơ – Công an tỉnh Vĩnh Long - VKSND huyện Tam Bình; - Chi cục THADS huyện Tam Bình; - CQĐT Công an huyện Tam Bình; - Nhà tạm giữ Công an huyện Tam Bình; - Bị cáo; - Bị hại; - UBND thị trấn Tam Bình, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thanh Thảo |