vanban.org

Bản án 76/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Hòa, tỉnh Long An Tuyên án 16/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016; buộc bị cáo Nguyễn Thanh H phải nộp 200.000 đồng án phí HSST sung vào Ngân sách Nhà nước. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án những người tham gia tố tụng có mặt được quyền kháng cáo xin xét xử phúc thẩm, những người vắng mặt đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án số: 76/2023/HS-ST
Ngày: 16 - 6 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mộng Thúy

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Đổi;

Ông Nguyễn Chí Lin;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thoa– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Mẫn - Kiểm sát viên;

Ngày 16 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 76/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2023 đối với các bị cáo:

Bị cáo: Nguyễn Thanh H (tên gọi khác: không có), sinh ngày 17 tháng 02 năm 1995, giới tính Nam. Nơi sinh: tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp Ch, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: không có; Trình độ học vấn 3/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đức H, sinh năm 1968 (sống) và bà Mã Thị Cẩm Nh, sinh năm 1972 (sống); Bản thân chưa có vợ con; Tiền sự: không. Tiền án: không. Biện pháp ngăn chặn: bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/02/2023 đến nay bị cáo có mặt.

Bị hại: Bà Trần Thị Ph, sinh năm 1972. Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Trần Viết T, sinh năm 1970. Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (có mặt)

Người chứng kiến:

Ông Trần Minh S, sinh năm 2005. Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (vắng mặt)

Ông Nguyễn Thanh Nh, sinh năm 2000. Địa chỉ: Ấp B, xã Đức Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 32 phút ngày 15/02/2023, do không có tiền tiêu xài cá nhân nên Nguyễn Thanh H (không có nơi ở cố định) nảy sinh ý định lén lút chiếm đoạt tài sản người khác bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Lúc này, Nguyễn Thanh H đi bộ từ khu ở tập thể công ty Th rồi trèo qua hàng rào phía sau Cửa hàng sắt thép bảng hiệu Hoàng D ngụ tại ấp B, xã Đ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An của bà Trần Thị Ph, đột nhập vào phòng ngủ của bà Ph lấy được 01 máy tính bảng nhãn hiệu Apple, loại Ipad Air 2, màu vàng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 13 Promax 256GB, màu vàng có gắn 01 ốp lưng màu xanh và số tiền 2.200.000 đồng, khi H đi ra bên ngoài phòng ngủ của bà Ph thì bị bà Ph phát hiện truy hô cùng người dân bắt quả tang, giao Công an xã Đ xử lý.

Vật chứng tạm giữ gồm:

- 01 máy tính bảng nhãn hiệu Apple, loại Ipad Air 2, 64GB, Số Serial: DMPPTCPXG5W0, màu vàng;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 13 Promax 256GB, màu vàng có gắn 01 ốp lưng bằng nhựa, màu xanh, không nhãn hiệu;

- Số tiền 2.200.000 đồng;

Tại bản Kết luận về định giá tài sản số 16/KL.HĐĐGTS ngày 20/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đức Hòa kết luận:

- 01 máy tính bảng nhãn hiệu Apple, loại Ipad Air 2, 64GB, số Serial: DMPPTCPXG5W0, màu vàng có trị giá: 8.000.000 đồng;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 13 Promax 256GB, màu vàng có trị giá: 28.320.000 đồng.

- 01 ốp lưng bằng nhựa, màu xanh, không nhãn hiệu có trị giá: 180.000 đồng.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị can Nguyễn Thanh H thực hiện hành vi phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị can Nguyễn Thanh H thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

Về xử lý vật chứng vụ án: Đối với những tài sản gồm 01 máy tính bảng nhãn hiệu Apple, loại Ipad Air 2, 64GB, Số Serial: DMPPTCPXG5W0, màu vàng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 13 Promax 256GB, màu vàng có gắn 01 ốp lưng bằng nhựa, màu xanh, không nhãn hiệu và số tiền 2.200.000 đồng là tài sản hợp pháp của bà Trần Thị Ph. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Hòa đã trả lại xong cho bà Trần Thị Ph.

Phần dân sự: Phần dân sự: Bà Trần Thị Ph nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự.

Tại bản cáo trạng số 83/CT-VKSĐH ngày 26 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Thanh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Kiểm sát viên sau khi phân tích, đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà các bị cáo gây ra; căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng điểm khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Trần Thị Ph đã nhận lại tài sản không có yêu cầu bồi thường gì nên không đề cập xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Xuất phát từ việc ông Nguyễn Thanh H không có việc làm nhưng muốn có tiền để sử dụng tiêu xài cá nhân không cần phải lao động Khoảng 01 giờ 32 phút ngày 15/02/2023 tại phòng ngủ trong Cửa hàng sắt thép bảng hiệu H Dung thuộc ấp B, xã Đ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, Nguyễn Thanh H thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại Trần Thị Ph gồm: 01 máy tính bảng nhãn hiệu Apple, loại Ipad Air 2, 64GB, số Serial: DMPPTCPXG5W0, màu vàng có trị giá: 8.000.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 13 Promax 256GB, màu vàng có trị giá: 28.320.000 đồng; 01 ốp lưng bằng nhựa, màu xanh, không nhãn hiệu có trị giá: 180.000 đồng; số tiền 2.200.000 đồng. Tổng tài sản Nguyễn Thanh H chiếm đoạt được trị giá 38.700.000 đồng. Hành vi của các bị cáo H đã vi phạm vào khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Thanh H trước Tòa phù hợp với lời khai của bị hại Trần Thị Ph, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Trần Viết T phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản bắt người phạm tội quả tang, sơ đồ hiện trường, phù hợp biên bản thu giữ vật chứng thu giữ đã được thẩm tra xác minh công khai tại phiên Tòa, phù hợp với nội dung bản cáo trạng. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận các bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh H được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh H được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Thanh H với tội danh và Điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản mà bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này của Nguyễn Thanh H đã xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bà Trần Thị Ph được pháp luật Hình sự bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo H không những xâm hại trực tiếp đến tài sản hợp pháp của bà Ph mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi trái pháp luật của bị cáo cần xử lý theo pháp luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS nhưng cần thiết cách ly bị cáo với xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Ph đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì nên không đề cập xem xét.

Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đức Hòa đã trả lại cho bà Ph xong nên không đền cập xem xét.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng sung vào Ngân sách Nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 01 năm 06 tháng tù. Thời gian tù tính từ ngày 15/02/2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày 16/6/2023 để đảm bảo cho việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016; buộc bị cáo Nguyễn Thanh H phải nộp 200.000 đồng án phí HSST sung vào Ngân sách Nhà nước.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án những người tham gia tố tụng có mặt được quyền kháng cáo xin xét xử phúc thẩm, những người vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ .

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ