vanban.org

Bản án 76/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 21/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2023/HS-ST
Ngày: 21-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH Đ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Liệu

2. Bà Trương Thị Lệ Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thanh Ngọc – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đ, Tòa án nhân dân huyện Đ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 66/2023/HSST ngày 31 Tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2023; Quyết định hoãn phiên toà số: 196/2023/HSST ngày 08 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1986 tại Đồng Nai .

Nơi cư trú: Ấp Phú Thọ, xã Phú Cường, huyện Đ, tỉnh Đ.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Nguyễn Ngọc Danh, sinh năm 1958 và bà Phạm Thị Thu Hà, sinh năm 1967; Anh, chị, em ruột: 02 người, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình;Vợ: Huỳnh Thị Hiếu, sinh năm 1993; Con: 02 người, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2014.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt ngày 17/11/2022, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ đến ngày 14/01/2023 được áp dụng biện pháp “Bảo lĩnh” (có mặt)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Trần Nguyễn Anh T, sinh năm 2002(vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Phú Tâm, xã Phú Cường, huyện Đ, tỉnh Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Ngọc L là đối tượng thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy.

Vào khoảng 21 giờ ngày 17/11/2022, do cần ma túy để sử dụng, Lợi điều khiển xe mô tô hiệu Vision biển số 60H6-014.18 đi từ nhà Lợi thuộc ấp Phú Thọ, xã Phú Cường, huyện Đ đến nhà của Trần Nguyễn Anh T, sinh năm 2002, tại ấp Phú Tâm, xã Phú Cường để mua ma túy. Khi gặp Tuấn, Lợi hỏi mua 01 bịch ma túy đá với giá 200.000 đồng thì Tuấn đồng ý bán. Lợi đưa cho Tuấn số tiền 200.000 đồng và nhận lại 01 bịch nylon được hàn kín chứa ma túy đá. Sau khi mua được ma túy, Lợi cất giấu trong túi quần Jean lửng phía trước, bên phải Lợi đang mặc và điều khiển xe mô tô đi tìm nơi sử dụng ma túy. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, khi Lợi đi đến đoạn đường thuộc ấp Phú Thọ, xã Phú Cường thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.

Thu giữ 01 bịch Nylon được hàn kín bên trong có chứa các tinh thể màu trắng, thu giữ trong túi quần trong túi quần Jean lửng phía trước, bên phải Lợi đang mặc và được niêm phong theo quy định.

- 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, màu đỏ nâu, biển số 60H6-014.18.

Tại bản Kết luận giám định số: 2475/KL-KTHS ngày 25/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ xác định: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,1683 gam, loại Methamphetamine.

Bản cáo trạng số: 46/CT-VKSĐQ ngày 30 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và đề nghị mức án đối với bị cáo Nguyễn Ngọc L từ 12 (mười hai) đến 16 ( mười sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

- 01 phong bì được niêm phong số: 2475/KL-KTHS ngày 25/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đ sau giám định là vật cấm lưu hành và sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, màu đỏ nâu, biển số 60H6-014.18, là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Quá trình điều tra xác định xe mô tô trên thuộc sở hữu hợp pháp của chị Huỳnh Thị Hiếu, sinh năm 1993 (vợ của Lợi). Vào ngày 17/11/2022, chị Hiếu cho Lợi mượn để làm phương tiện đi lại, chị Hiếu không biết việc Lợi sử dụng xe để đi mua ma túy. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Hiếu .

Đối với đối tượng tên Trần Nguyễn Anh T đã có hành vi bán ma túy cho Lợi, ngày 20/01/2023, hành vi của Tuấn đã bị Cơ quan điều tra tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong vụ án khác.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử quyết định về án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như cáo trạng truy tố là đúng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 17/11/2022, tại khu vực đường thuộc ấp Phú Thọ, xã Phú Cường, huyện Đ, tỉnh Đ. Bị cáo đã có hành vi tàng trữ 0,1683 gam ma túy, loại Methamphetamine thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng số: 246/CT-VKS-ĐQ ngày 30 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, không oan sai cho bị cáo.

Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý, sử dụng chất ma túy của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện, người nghiện ma túy ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể chất và tinh thần, ma túy còn là nguyên nhân của các tội phạm khác. Vì vậy, Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy, nhằm tạo một môi trường sống, học tập, lao động lành mạnh, không có tệ nạn xã hội. Bị cáo nhận thức rõ hiểm họa của ma túy, nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần có mức hình phạt đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu; con còn nhỏ là các tình tiết giảm nhẹ được xem xét theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì được niêm phong số: 2475/KL-KTHS ngày 25/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đ sau giám định là vật cấm lưu hành và sử dụng

Vấn đề khác:

Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, màu đỏ nâu, biển số 60H6-014.18, là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Quá trình điều tra xác định xe mô tô trên thuộc sở hữu hợp pháp của chị Huỳnh Thị Hiếu, sinh năm 1993 (vợ của Lợi). Vào ngày 17/11/2022, chị Hiếu cho Lợi mượn để làm phương tiện đi lại, chị Hiếu không biết việc Lợi sử dụng xe để đi mua ma túy. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Hiếu là đúng quy định.

Đối với đối tượng tên Trần Nguyễn Anh T đã có hành vi bán ma túy cho Lợi, ngày 20/01/2023, hành vi của Tuấn đã bị Cơ quan điều tra tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong vụ án khác là đúng quy định.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về việc đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào

- Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

- Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc L 01 (một) năm tù.

Thời hạn tù của bị cáo được tính kể từ ngày chấp hành án, được trừ đi thời hạn tạm giữ từ ngày 17 tháng 11 năm 2022 đến ngày 14 tháng 01 năm 2023.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu huỷ 01 gói niêm phong sau giám định số: số 2475/KL-KTHS ngày 25/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng.

(Số vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 31 /3/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ ).

3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc L phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15(mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ