- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xét xử"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Ánh T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 76/2023/HNGĐ-ST Ngày: 18-8-2023 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH PHÚ YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Tân Sang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đại Minh và bà Phan Thị Oanh.
Thư ký phiên tòa: Ông Võ Đức Vũ Tài – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Phát – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 208/2023/TLST-HNGĐ ngày 26/5/2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/7/2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 97/2023/QĐST-HNGĐ ngày 01/8/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Ánh T, sinh năm 1998; HKTT: 48/17 Trần ..., phường ..., Tp T, tỉnh Phú Yên. Chổ ở hiện nay: 38B/10 Lê ..., phường ..., thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng D, sinh năm 1993; Địa chỉ: 27/17 Trần ..., phường ..., Tp T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 16/5/2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Hồ Thị Ánh T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh D tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường ..., Tp T, tỉnh Phú Yên cấp giấy chứng nhận kết hôn số 08 ngày 21/3/2019. Sau khi kết hôn, cuộc sống hôn nhân hạnh phúc được một thời gian đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, anh D thường xuyên rượu chè, cờ bạc nên kình cãi nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng bị rạn nứt. Mâu thuẫn vợ chồng được gia đình hai bên cũng hòa giải nhưng không thành. Chị T và anh D sống ly thân từ đó cho đến nay, không ai quan tâm chăm sóc đến ai. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh D.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên là Nguyễn Hồ Huy D, sinh ngày 06/9/2019. Hiện nay cháu D đang sống với chị T. Ly hôn chị T yêu cầu được nuôi dưỡng cháu D và không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Nguyễn Hoàng D vắng mặt nên không có lời trình bày.
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định. Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật; Bị đơn không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật; Phát biểu ý kiến về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị T cụ thể: Về quan hệ hôn nhân: Chị T được ly hôn với anh D; Về con chung: Giao 01 con chung cháu D cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, anh D không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét; Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Hoàng D đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh D tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường..., thành phố T, tỉnh Phú Yên cấp giấy chứng nhận kết hôn số 08 ngày 21/3/2019 nên được coi là hôn nhân hợp pháp. Theo chị T, sau khi kết hôn cuộc sống hôn nhân hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, anh D thường xuyên rượu chè, cờ bạc, vợ chồng kình cãi nhau nên tình cảm vợ chồng bị rạn nứt. Chị T và anh D đã sống ly thân từ đầu năm 2022 cho đến nay, không ai quan tâm chăm sóc đến ai. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ cho anh D để lấy lời khai và hòa giải nhưng anh D không đến Tòa cũng như tại phiên tòa hôm nay anh D vẫn không có mặt. Như vậy cho thấy anh D không có thiện chí hòa giải khắc phục mâu thuẫn để vợ chồng đoàn tụ. Xét mâu thuẫn giữa chị T và anh D đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh D.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị T và anh D có 01 con chung tên là Nguyễn Hồ Huy D, sinh ngày 06/9/2019. Hội đồng xét xử thấy rằng: hiện nay cháu D đang sống với chị T, vẫn đảm bảo cuộc sống về thể chất và sự phát triển tâm sinh lý bình thường của cháu D. Do đó, để không làm xáo trộn cuộc sống của con chung nên cần tiếp tục giao cháu D cho chị T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Từ những căn cứ nêu trên nên chấp nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Về án phí: Nguyên đơn chị T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Ánh T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị Ánh T được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng D.
2. Về con chung: Giao 01 (một) con chung tên là Nguyễn Hồ Huy D, sinh ngày 06/9/2019 cho chị Hồ Thị Ánh T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Hồ Thị Ánh T không yêu cầu anh Nguyễn Hoàng D phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp cần thiết có thể yêu cầu thay đổi người nuôi con và mức cấp dưỡng.
3. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí: Chị Hồ Thị Ánh T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008203 ngày 25/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Phú Yên.
5. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Phú Yên; - VKSND Tp.Tuy Hoà; - Chi cục THADS Tp T; - UBND phường …, Tp T; (Số 08, ngày 21/03/2019) - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Thị Tân Sang |