vanban.org

Bản án 76/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Hoa L và anh Huỳnh Văn D.

Về quan hệ con chung: Có 02 con chung tên Huỳnh Thị Kiều M, sinh ngày 06/4/1994 và Huỳnh Thị Kiều L, sinh ngày 09/9/1996, đều đã thành niên. Về quan hệ tài sản: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa chị L và anh D"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Hoa L và anh Huỳnh Văn D.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TS

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 76/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 27/4/2023
V/v: “Tranh chấp về hôn nhân
và gia đình - Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TS, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Minh Tâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thành Phước

2. Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện TS, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TS tham gia phiên tòa: Bà Bùi Phương Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TS xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ L số: 444/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 39/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2023 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 01/2023/QĐST–HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hoa L, sinh năm 1973 (Có mặt)

Địa chỉ: ấp PA, thị trấn PH, huyện TS, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Anh Huỳnh Văn D, sinh năm 1965 (Vắng mặt)

Nơi ở hiện nay: ấp PA, thị trấn PH, huyện TS, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hoa L trình bày:

Chị và anh Huỳnh Văn D do mai mối và tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1993, có tổ chức đám cưới nhưng đến nay vẫn không đăng ký kết hôn. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc có 02 con chung. Nhưng năm 2012 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, có nhiều bất đồng trong quan điểm sống, vợ chồng cũng hay cự cãi. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2012 cho đến nay. Nhận thấy, tình cảm không còn, cuộc sống hôn nhân không thể hàn gắn và kéo dài nên chị yêu cầu được ly hôn anh Huỳnh Văn D.

- Về quan hệ con chung: Có 02 con chung tên Huỳnh Thị Kiều M, sinh ngày 06/4/1994 và Huỳnh Thị Kiều L, sinh ngày 09/9/1996, đều đã thành niên.

- Về quan hệ tài sản:

+ Về tài sản chung: Không có.

+ Về nợ chung: Không có.

* Về phía bị đơn anh Huỳnh Văn D: Trong quá trình thụ L vụ án và hòa giải, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật và triệu tập hợp lệ đương sự đến lần thứ hai nhưng anh D không gửi văn bản ghi ý kiến của bản thân, cũng không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh D.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Việc Tòa án tiến hành thụ L giải quyết là đúng theo trình tự thủ tục và thẩm quyền, trong quá trình tiến hành tố tụng Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự trong vụ án cũng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Về nội dung: Căn cứ theo các quy định của pháp luật, đề nghị không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Hoa L và anh Huỳnh Văn D. Về con chung: Có 02 con chung tên Huỳnh Thị Kiều M, sinh ngày 06/4/1994 và Huỳnh Thị Kiều L, sinh ngày 09/9/1996, đều đã thành niên nên không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn, bị đơn anh Huỳnh Văn D hiện nay đang sinh sống tại ấp PA, thị trấn PH, huyện TS, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện TS theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn anh Huỳnh Văn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có L do chính đáng. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Huỳnh Văn D.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hoa L và anh Huỳnh Văn D chung sống với nhau từ năm 1993, có tổ chức đám cưới nhưng đến nay vẫn không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống thì anh chị phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cự cải nên đã ly thân từ năm 2012 đến nay. Nay chị L yêu cầu ly hôn anh D.

Xét thấy, theo Khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ, chồng….”. Tại khoản 2 Điều 53 cũng quy định: “Trong trường hợp không có đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ L và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của luật này…”. Như vậy, mặc dù chị L và anh D đã sống chung với nhau trong một thời gian dài và có 02 con chung nhưng không đăng ký kết hôn nên về mặt pháp luật không thừa nhận quan hệ giữa chị L và anh D là vợ chồng nên việc chị L yêu cầu được ly hôn anh D là không phù hợp mà cần tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị L và anh D.

[2.2] Về quan hệ con chung: Chị L và anh D có 02 con chung tên Huỳnh Thị Kiều M, sinh ngày 06/4/1994 và Huỳnh Thị Kiều L, sinh ngày 09/9/1996, đều đã thành niên nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2.3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Do chị Nguyễn Thị Hoa L yêu cầu giải quyết ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 14 và Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản L và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Hoa L và anh Huỳnh Văn D.

2. Về quan hệ con chung: Có 02 con chung tên Huỳnh Thị Kiều M, sinh ngày 06/4/1994 và Huỳnh Thị Kiều L, sinh ngày 09/9/1996, đều đã thành niên.

3. Về quan hệ tài sản:

- Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Ghi nhận chị Nguyễn Thị Hoa L và anh Huỳnh Văn D không có nợ chung, nhưng sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của anh, chị trong thời kỳ sống chung thì chị Nguyễn Thị Hoa L và anh Huỳnh Văn D vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách là đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hoa L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009436 ngày 18 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện TS, tỉnh An Giang.

5. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ