vanban.org

Bản án 76/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T T K, cho chị T T K được ly hôn với anh Đ N L

2/. Về con chung: tiếp tục giao cháu Đặng Trần Hoàng K, sinh ngày 20/02/2022 cho chị K trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về cấp dưỡng, do chị K không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết. 3/. Tài sản chung…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? 1/. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T T K, cho chị T T K được ly hôn với anh Đ N L
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHƯỚC LONG
TỈNH BẠC LIÊU
Bản án số: 76/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 16/6/2023

V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Thanh Tồn

Các Hội thẩm nhân dân:

1/. Bà Dương Thị Tú Phương;

2/. Bà Võ Tuyết Kha.

Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Văn Trường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Nhiên – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 146/2022/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2023 giữa:

1/. Nguyên đơn: Chị T T K, sinh năm 2003;

Địa chỉ: ấp Phước Thành, xã Phước Long, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

2/. Bị đơn: Anh Đ N L, sinh năm 2002

Địa chỉ: ấp Bình Hổ, xã Vĩnh Phú Tây, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

(Chị K, anh L có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị T T K trình bày: Chị với anh Đ N L làm đám cưới trên tinh thần tự nguyện vào năm 2022, còn ngày tháng thì không nhớ, có đăng ký kết hôn vào ngày 07/4/2022 tại Ủy ban nhân dân xã Phước Long, huyện Phước Long. Trong thời kỳ hôn nhân, chị và anh L có 01 người con tên Đặng Trần Hoàng K, sinh ngày 20/02/2022, hiện đang sống với chị. Về tài sản chung, nợ chung chị và anh không có tài sản chung, không nợ ai hoặc ai nợ chị, anh. Nay chị yêu cầu ly hôn với anh Đ N L, yêu cầu được tiếp tục nuôi con tên Đặng Trần Hoàng K, sinh ngày 20/02/2022, không yêu cầu anh L cấp dưỡng tiền nuôi con; về tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Đ N L trình bày: Thống nhất với lời khai của chị K, anh với chị K làm đám cưới trên tinh thần tự nguyện vào năm 2022, còn ngày tháng thì không nhớ, có đăng ký kết hôn vào ngày 07/4/2022 tại Ủy ban nhân dân xã Phước Long, huyện Phước Long. Trong thời kỳ hôn nhân, anh và chị K có 01 người con tên Đặng Trần Hoàng K, sinh ngày 20/02/2022, hiện đang sống với chị K. Về tài sản chung, nợ chung chị và anh không có tài sản chung, không nợ ai hoặc ai nợ anh, chị. Nay anh không đồng ý ly hôn với chị K, nếu Tòa án cho anh, chị ly hôn thì anh yêu cầu nuôi con tên Đặng Trần Hoàng K, không yêu cầu chị K cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long trình bày quan điểm:

- Về tố tụng: Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với đương sự từ khi tham gia tố tụng đến nay, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không thực hiện đúng theo giấy triệu tập của Tòa án.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về hôn nhân: Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cho chị K được ly hôn với anh L.

+ Về con chung: Tiếp tục giao cháu Đặng Trần Hoàng K, sinh ngày 20/02/2022 cho chị K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh L có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Về cấp dưỡng do chị K, anh L không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

+ Về án phí: Chị K phải chịu 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; sau khi nghe ý kiến phát biểu đề xuất của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận, nghị án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về trình tự tố tụng: Chị T T K yêu cầu ly hôn, nuôi con với anh Đ N L; anh L có địa chỉ tại ấp Bình Hổ, xã Vĩnh Phú Tây, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu. Chị K, anh L có đơn xin xét xử vắng mặt nên việc xét xử vắng mặt chị K, anh L là phù hợp với quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị K và anh L thống nhất anh, chị xây dựng hôn nhân vào năm 2022, còn ngày tháng thì không nhớ, có đăng ký kết hôn vào ngày 07/4/2022 tại Ủy ban nhân dân xã Phước Long, huyện Phước Long; Do đó hôn nhân của anh, chị là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Chị K và anh L không còn sống chung với nhau khoảng 01 năm nay, cuộc sống chung không hạnh phúc, nay chị K yêu cầu ly hôn với anh L với lý do không còn tình cảm với chồng, không thể tiếp tục chung sống với nhau được; về phía anh L cũng thừa nhận anh và chị K xảy ra nhiều mâu thuẫn nhưng anh không đồng ý ly hôn. Từ đó cho thấy, hôn nhân giữa chị K và anh L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của chị K, cho chị K được ly hôn với anh L.

[4] Về con chung: Chị K và anh L thống nhất trình bày anh, chị có người con chung tên Đặng Trần Hoàng K, sinh ngày 20/02/2022, hiện đang sống với chị K; cả chị K, anh L đều có nguyện vọng được nuôi cháu K. Tại khoản 3 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình quy định “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Xét thấy, tính đến ngày xét xử vụ án, cháu K chưa được 36 tháng tuổi nên Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Đặng Trần Hoàng K, sinh ngày 20/02/2022 cho chị K được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về cấp dưỡng, do chị K không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị K và anh L không yêu cầu nên không xem xét giải quyết trong vụ án này.

[6] Với những phân tích trên xét đề nghị của kiểm sát viên là có căn nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị K phải chịu 300.000 đồng theo quy định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1/. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T T K, cho chị T T K được ly hôn với anh Đ N L

2/. Về con chung: tiếp tục giao cháu Đặng Trần Hoàng K, sinh ngày 20/02/2022 cho chị K trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về cấp dưỡng, do chị K không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.

3/. Tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.

4/. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; Buộc chị T T K phải chịu án phí dân sự không có giá ngạch là 300.000 đồng. Chị K đã nộp tiền tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012643 ngày 19 tháng 4 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long nên được chuyển thu án phí trong giai đoạn thi hành án. Anh Đ N L không phải chịu án phí.

Quyết định này được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án theo Điều 6, quyền và nghĩa vụ theo các Điều 7, 7a và 7b; tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai vắng mặt các đương sự, báo cho các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết hợp lệ bản án.

Cỡ chữ