- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Diễm Ph.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH NINH THUẬN Bản án số: 76/2023/HNGĐ-ST; Ngày: 01/8/2023; V/v: “Tranh chấp ly hôn, người nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Cốc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Ngọc Minh.
2. Ông Hán Văn Mai.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đổng Mây Hồng Tuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 61/2023/TLST-HNGĐ, ngày 14 tháng 3 năm 2023 về việc: “Tranh chấp ly hôn, người nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 13 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Diễm Ph, sinh năm 1999 (Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt);
Nơi cư trú: Thôn An Thạnh 2, xã An Hải, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
- Bị đơn: Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1994 (Vắng mặt – Có yêu cầu xét xử vắng mặt);
Nơi cư trú: Thôn An Thạnh 2, xã An Hải, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
Hiện đang chấp hành án tại: Trại giam A2 – Bộ công an thuộc xã Diên Lâm, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Thị Diễm Ph trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Trần Văn Đ chung sống và đăng ký kết hôn tại UBND xã An Hải, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận theo số 117/2020, ngày 07/12/2020; Việc hai bên kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, hai bên gia đình có tổ chức cưới hỏi đầy đủ; Sau khi kết hôn thì vợ chồng về chung sống tại nhà chồng được khoảng 02 tháng sau đó chuyển về nhà mẹ của bà ở thôn Long Bình 2, xã An Hải, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
Vợ chồng chung sống không hạnh phúc do không hợp nhau, hai bên nhiều lần xảy ra mâu thuẫn và cãi nhau; Ngoài ra ông Đ còn ham mê cờ bạc gây nợ nần trong gia đình. Bà đã nhiều lần khuyên giải và góp ý để chồng thay đổi và mong ông Đ có thể tiến bộ hơn nhưng không có kết quả mà còn tệ hơn trước, dần dần do quá mệt mỏi và thất vọng về chồng nên bà không hỏi han gì ông Đ nữa và vợ chồng tự sống theo ý cá nhân; Đến năm 2021 ông Đ cướp giật tài sản nên đã bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm xử phạt 04 năm tù tại bản án số 43, ngày 19/4/2022 và hiện ông Đ đang chấp hành án tại trại giam A2 – Bộ công an.
Nay bà xác định đã hết tình cảm với chồng, mục đích hôn nhân không đạt được nên kiên quyết xin ly hôn ông Trần Văn Đ.
Về con chung: Vợ chồng bà có 01 con chung tên Trần Ngọc Minh Ch, sinh ngày: 29/11/2021. Từ trước đến nay thì bà là người trược tiếp chăm lo cho con nên nay ly hôn thì bà yêu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, bà có nghề làm kế toán thu nhập ổn định 4.500.000đ/tháng ngoài ra còn ông bà ngoại hỗ trợ đủ khả năng nuôi con nên không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Diễm Ph không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 16/6/2023 có xác nhận của lãnh đạo Trại giam A2 – Bộ công an, bị đơn ông Trần Văn Đ trình bày:
Ông và bà Nguyễn Thị Diễm Ph tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại UBND xã An Hải, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận theo số 117/2020, ngày 07/12/2020. Quá trình chung sống vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn nhưng do ông có lỗi lầm và bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm xử phạt 04 năm tù tại bản án số 43, ngày 19/4/2022 và hiện ông đang chấp hành án tại trại giam A2 – Bộ công an vì vậy nay bà Ph yêu cầu ly hôn thì ông đồng ý.
Về con chung: Vợ chồng ông có 01 con chung tên Trần Ngọc Minh Ch, sinh ngày: 29/11/2021; Hiện ông đang chấp hành án nên ông đồng ý giao con chung cho bà Ph trực tiếp nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông Trần Văn Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, ông Đ còn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm:
- Về thủ tục tố tụng:
Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật, tại phiên tòa nguyên đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn đã có lời khai tại hồ sơ đồng thời yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Lời trình bày và kết quả tranh tụng của đương sự; Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Nguyễn Thị Diễm Ph khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn ông Trần Văn Đ; Yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp ly hôn, người nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Trần Văn Đ có địa chỉ cư trú tại thôn Long Bình 2, xã An Hải, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
Về việc vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn đã cung cấp lời khai và yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Diễm Ph và ông Trần Văn Đ đăng ký kết hôn tại UBND xã An Hải, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tại số: 117/2020, ngày 07 tháng 12 năm 2020; Xác định đây là hôn nhân hợp pháp.
Bà Nguyễn Thị Diễm Ph trình bày, vợ chồng chung sống không hạnh phúc do không hợp nhau, hai bên nhiều lần xảy ra mâu thuẫn và cãi nhau; Ngoài ra ông Đ còn ham mê cờ bạc gây nợ nần trong gia đình; Bà đã nhiều lần khuyên giải và góp ý để chồng thay đổi và mong chồng có thể tiến bộ hơn nhưng không có kết quả mà còn tệ hơn trước, dần dần do quá mệt mỏi và thất vọng về chồng nên bà không hỏi han gì ông Đ nữa và vợ chồng tự sống theo ý cá nhân, nay bà xác định đã hết tình cảm với chồng, mục đích hôn nhân không đạt được nên kiên quyết xin ly hôn ông Trần Văn Đ.
Tại bản tự khai ngày 16/6/2023 có xác nhận của lãnh đạo Trại giam A2 – Bộ công an, bị đơn ông Trần Văn Đ cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn nhưng vì ông có lỗi lầm nên trước yêu cầu xin ly hôn của bà Ph thì ông đồng ý; Xét thấy: Bị đơn cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn tuy nhiên trước yêu cầu xin ly hôn của bà Ph thì ông Đ không phản đối chứng tỏ mâu thuẫn giữa vợ chồng bà Ph ông Đ là có thật, bản thân ông Đ cũng không có kế hoạch hay lộ trình gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng, nay nguyên đơn kiên quyết xin ly hôn và bị đơn cũng đồng ý nhưng xin giải quyết vắng mặt vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Diễm Ph.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị Diễm Ph và ông Trần Văn Đ có 01 con chung tên Trần Ngọc Minh Ch, sinh ngày: 29/11/2021; Bà Ph yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Ông Đ hiện đang phải chấp hành án nên đồng ý giao con chung cho bà Ph trực tiếp nuôi dưỡng, xét thấy yêu cầu của bà Ph là có cơ sở vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình giao cho bà Nguyễn Thị Diễm Ph là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trần Ngọc Minh Ch.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Diễm Ph không yêu cầu ông Trần Văn Đ cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Bà Nguyễn Thị Diễm Ph phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Khoản 1 Điều 273; Điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Diễm Ph.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Diễm Ph được ly hôn ông Trần Văn Đ.
2. Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị Diễm Ph có quyền và nghĩa vụ trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Trần Ngọc Minh Ch, sinh ngày: 29/11/2021.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Trần Văn Đ không cấp dưỡng nuôi con chung do bà Nguyễn Thị Diễm Ph không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Diễm Ph phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm; Số tiền này được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số: 0007367, ngày 13/3/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Bà Nguyễn Thị Diễm Ph đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai vắng mặt nguyên đơn và bị đơn quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND huyện Ninh Phước; - Chi cục THADS huyện Ninh Phước; - UBND xã An Hải (2020); - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Đăng Cốc |