- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị N - Nguyễn Văn T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 76/2023/HNGĐ - ST. Ngày: 27 - 9 - 2023. V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Hồng Hiệp;
Ông Nguyễn Thanh Rực.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Gia Mẫn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Hồng Như - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 125/2023/TLST - HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 147/2023/QĐXX-ST ngày 25 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị N, sinh năm 1982; địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh An Giang (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1974; địa chỉ: Ấp H, thị trấn N, huyện P, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện lập ngày 09/8/2023 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thị N trình bày: Vào năm 2003, bà Trần Thị N và ông Nguyễn Văn T tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện P, tỉnh Sóc Trăng, giấy chứng nhận kết hôn số 88/2003, quyển số 01/2003, ngày 14/11/2003. Sau khi kết hôn ông, bà chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, đời sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên ông, bà sống ly thân từ tháng 10 năm 2019 đến nay. Trong thời gian chung sống ông, bà có 02 người con chung tên Nguyễn Trọng P, sinh ngày 26/6/2005 và Nguyễn Chí H, sinh ngày 18/02/2009, hiện con chung đang sống cùng với bà N. Quá trình chung sống ông, bà không có tài sản chung và không có nợ chung.
Tại phiên tòa, bà yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn T; về con chung: Bà Trần Thị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Chí H, sinh ngày 18/02/2009 đến khi thành niên. Bà N không yêu cầu ông Nguyễn Văn T cấp dưỡng cho cháu H. Đối với con chung tên Nguyễn Trọng P đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; về tài sản chung, nợ chung: Không có nên bà N không yêu cầu gì.
- Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn T: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông T nhưng ông T không có ý kiến phản đối gì. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông T để tham gia tố tụng tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng ông T vắng mặt nên Tòa án đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông T biết. Bị đơn ông Nguyễn Văn T đã được triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
- Tại phiên toà, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú tham gia phiên tòa trình bày ý kiến: Việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và xác định tư cách của người tham gia tố tụng trong vụ án là đúng quy định của pháp luật; Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng x t xử và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng x t xử vào nghị án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn T chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra các chứng cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa xét thấy tình trạng của vợ chồng bà Trần Thị N và ông Nguyễn Văn T đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà N; giao cháu Nguyễn Chí H, sinh ngày 18/02/2009 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên, ông T không cấp dưỡng cho con chung; về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét; con chung tên Nguyễn Trọng P đã thành niên nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 09/8/2023, nguyên đơn bà Trần Thị N trình bày: Vào năm 2003, bà Trần Thị N và ông Nguyễn Văn T tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện P, tỉnh Sóc Trăng, giấy chứng nhận kết hôn số 88/2003, quyển số 01/2003, ngày 14/11/2003. Bà N yêu cầu xin được ly hôn với ông Nguyễn Văn T và yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu giải quyết. Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng thụ lý vụ án và xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giải quyết “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Trong vụ án, bị đơn ông Nguyễn Văn T hiện đang cư trú tại ấp H, thị trấn N, huyện P, tỉnh Sóc Trăng nên Tòa án nhân dân huyện Long Phú thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông T.
Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, bà Trần Thị N và ông Nguyễn Văn T tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện P, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 88/2003, quyển số 01/2003, ngày 14/11/2003 nên quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông T là hợp pháp, được pháp luật công nhận. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình, bà N có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Xét lý do yêu cầu ly hôn của bà N, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong thời gian chung ông bà thường xảy ra bất đồng ý kiến trong cuộc sống nên vợ chồng thường cải vã qua lại, mâu thuẩn kéo dài từ đó cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc. Ông T và bà N đã sống ly thân với nhau từ năm 2019 cho đến nay và sau khi sống ly thân thì ông T và bà N có gặp nhau nhưng không hàn gắn tình cảm. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên hòa giải để động viên vợ chồng ông T và bà N đoàn tụ với nhau nhưng ông T vẫn vắng mặt và bà N vẫn kiên quyết ly hôn với ông T vì tình cảm vợ chồng không còn. Như vậy, tình trạng của vợ chồng ông T và bà N đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét yêu cầu xin ly hôn của bà N là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà N được ly hôn với ông T.
Về con chung: Bà Trần Thị N xác định trong thời gian chung sống, bà N và ông T có 02 người con chung là Nguyễn Trọng P, sinh ngày 26/6/2005 và Nguyễn Chí H, sinh ngày 18/02/2009, hiện đang sống chung với bà N; bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H đến khi thành niên. Đối với con chung tên Nguyễn Trọng P đã thành niên nên bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét thấy, từ khi bà N và ông T không sống chung với nhau cho đến nay cháu H do bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và quá trình giải quyết vụ án khi ghi nhận ý kiến thì cháu cháu H có nguyện vọng sống chung với bà N. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu H, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải giao cháu H cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình. Ngoài ra, căn cứ vào Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử dành quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung cho ông Nguyễn Văn T mà không ai được cản trở.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Bà Trần Thị N không yêu cầu ông Nguyễn Văn T cấp dưỡng cho con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị N xác định trong thời gian chung sống bà N và ông Nguyễn Văn T không có tài sản chung và không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Từ những phân tích nêu trên, x t đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bà Trần Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Văn T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị N.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị N được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
1.2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Chí H, sinh ngày 18/02/2009 cho bà Trần Thị N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên; ông Nguyễn Văn T không cấp dưỡng cho con chung. Dành quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung cho ông Nguyễn Văn T mà không ai được cản trở. Đối với con chung tên Nguyễn Trọng Phúc đã thành niên nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị N xác định trong thời gian chung sống bà N và ông Nguyễn Văn T không có tài sản chung và không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010156 ngày 09/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng; như vậy, bà Trần Thị N đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Văn T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Long Phú; - Chi cục THADS huyện Long Phú; - UBND thị trấn Đại Ngãi, huyện Long Phú; - TAND tỉnh Sóc Trăng (P.KTNV&THA) - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Ánh |