vanban.org

Bản án 76/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Chấp nhận T bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị L.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị L và anh Huỳnh Bá T được ly hôn. [3] Về con chung: Chị Phạm Thị L được tiếp tục nuôi dưỡng Huỳnh Như Ng, giới tính nữ, sinh ngày 20/9/2015. Anh Huỳnh Bá T chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Huỳnh Bá T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận T bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ LONG MỸ
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 27/9/2023
V/v tranh chấp ly hôn,
nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Thanh Quyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trưởng

Ông Lê Văn Qui

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Diện – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 104/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 05 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2023 và các Quyết định hoãn phiên tòa số 69/2023/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2023 và số 90/2023/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 9 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị L, sinh năm 1986 (có mặt).

Địa chỉ: ấp 2, xã Long Ph, thị xã M, tỉnh Hg

2. Bị đơn: Anh Huỳnh Bá T, sinh năm: 1986 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp 2, xã Long Ph, thị xã M, tỉnh Hg

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng CSXH VN.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Nhựt Y – Giám đốc Ngân hàng CSXH VN – Phòng giao dịch thị xã Long Mỹ (vắng mặt và có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

Địa chỉ: khu vực Bình Thạnh B, phường Bình Thạnh, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Phạm Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh T tự nguyện tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Phú, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang (nay là thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang) vào ngày 23/6/2015.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, cuộc sống chung không hạnh phúc nên đã không còn sống chung từ năm 2022 cho đến nay. Chị L yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị L và anh T có 01 con chung tên Huỳnh Như Ng, giới tính nữ, sinh ngày 20/9/2015, hiện đang sống chung với chị L. Sau khi ly hôn, chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Vợ chồng có tài sản chung nhưng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Nợ Ngân hàng CSXH VN (gọi tắt là Ngân hàng) số tiền 60.000.000 đồng và lãi phát sinh. Chị L thống nhất tự trả nợ cho Ngân hàng và không yêu cầu anh T có nghĩa vụ cùng trả nợ.

Đại diện Ngân hàng CSXH VN bà Nguyễn Nhựt Yến trình bày: Bà Phạm Thị L và ông Huỳnh Bá T còn nợ Ngân hàng CSXH VN số tiền 60.000.000 đồng và lãi suất phát sinh. Nay bà L và ông T tiến hành thực hiện thủ tục ly hôn nhưng xét thấy việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng vẫn đảm bảo nên Ngân hàng chưa yêu cầu Tòa án buộc bà L và ông T cùng có nghĩa vụ trả nợ.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với bị đơn Huỳnh Bá T nhưng bị đơn vắng mặt không lý do.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang phát biểu ý kiến như sau:

Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn, chưa chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị L. Chị Phạm Thị L được ly hôn với bị đơn anh T. Về con chung: Chị L được tiếp tục nuôi dưỡng con chung con chung tên Huỳnh Như Ng, giới tính nữ, sinh ngày 20/9/2015. Anh T chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Huỳnh Bá T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Về tài sản chung: không xem xét. Về nợ chung: Không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ đã thể hiện trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại tòa án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn thị xã Long Mỹ nên Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang giải quyết là đúng thẩm quyền theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Huỳnh Bá T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, đại diện Ngân hàng CSXH VN bà Nguyễn Nhựt Yến có yêu cầu giải quyết vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh T tự nguyện kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Phú, huyện Long Mỹ (nay là thị xã Long Mỹ), tỉnh Hậu Giang vào ngày 23/6/2015 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Xét nguyên nhân yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị L, Hội đồng xét xử nhận định: Quá trình chung sống thời gian đầu cuộc sống vợ chồng anh chị hạnh phúc về sau vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, cuộc sống chung không hạnh phúc. Chị L và anh T đã không còn sống chung từ năm 2022 cho đến nay, mâu thuẫn của anh chị vẫn không thể hàn gắn được, chị L cương quyết yêu cầu được ly hôn với anh T. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân giữa chị L và anh T đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị L.

Về con chung: Chị L và anh T có 01 con chung tên Huỳnh Như Ng, giới tính nữ, sinh ngày 20/9/2015, hiện đang sống chung với chị L. Sau khi ly hôn, chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử nhận định, từ khi chị L và anh T không còn sống chung, con chung sống chung với chị L, đồng thời yêu cầu của chị L cũng phù hợp với ý kiến của Huỳnh Như Ng có nguyện vọng sống chung với chị L. Do đó, để đảm bảo môi trường sống ổn định cho con chung, Hội đồng xét xử thống nhất giao con chung cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng.

Chị L chưa yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét; Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Đương sự khai có tài sản chung nhưng tự thỏa thuận nên không đề cập giải quyết trong vụ án này.

Về nợ chung: Không ai yêu cầu nên không đề cập giải quyết trong vụ án này.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Phạm Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận T bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị L.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị L và anh Huỳnh Bá T được ly hôn.

[3] Về con chung: Chị Phạm Thị L được tiếp tục nuôi dưỡng Huỳnh Như Ng, giới tính nữ, sinh ngày 20/9/2015. Anh Huỳnh Bá T chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Huỳnh Bá T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung: Đương sự khai có tài sản chung nhưng tự thỏa thuận nên không đề cập giải quyết trong vụ án này.

[5] Về nợ chung: Không ai yêu cầu nên không đề cập giải quyết trong vụ án này.

[6] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị Phạm Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo lai thu số 0004632 lập ngày 30 tháng 5 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Chị Phạm Thị L đã nộp xong án phí.

[7] Nguyên đơn chị Phạm Thị L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 27/9/2023). Bị đơn anh Huỳnh Bá T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng CSXH VN có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ