vanban.org

Bản án 76/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị D và anh Trần Minh H.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị D tiếp tục được chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con Trần Nguyễn Lê P, sinh ngày 25/4/2017. Ghi nhận chị D không yêu cầu anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị D và anh Trần Minh H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
. TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 22-9-2023
V/v “Ly hôn, con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thiều Thị Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đào Thị Lan;

2. Ông Vũ Hòa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Tuyết Mai, Thư ký Tòa án nhân dân Huyện C

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện C tham gia phiên toà: Bà Lâm Phượng Tú, Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 251/2023/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2023 về việc “Ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2023/QĐST- HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm: 1992; địa chỉ: Ấp Bàu Dài, xã Phước Ninh, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Anh Trần Minh H, sinh năm: 1989; địa chỉ: Ấp Bàu Dài, xã Phước Ninh, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh ( vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 31-5-2023 và trong quá trình giải quyết nguyên đơn chị Nguyễn Thị D trình bày: Chị và anh H tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phước Ninh, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp tính tình, không quan tâm đến gia đình, anh H ham chơi chị đã khuyên ngăn nhiều lần nhưng anh H không thay đổi, chị có nộp đơn yêu cầu Ly hôn, anh H năn nỉ xin đoàn tụ chị đồng ý đoàn tụ gia đình. Đến tháng 2/2023 vợ chồng tiếp tục xảy ra mâu thuẫn anh H không có trách nhiệm với gia đình, vợ chồng thường xuyên cải nhau, sống ly thân từ tháng 2/2023 cho đến nay. Quá trình ly thân mỗi người sống một nơi, không gặp mặt nhau không thể hàn gắn gia đình vì không còn tình cảm vợ chồng. Nay tình cảm vợ chồng không còn chị yêu cầu được ly hôn với anh H.

Về con chung: Có 01 con chung Trần Nguyễn Lê P, sinh ngày 25/4/2017, chị yêu cầu nuôi con chung không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Trần Minh H trình bày: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành thủ tục cấp, tống đạt theo quy định tại Điều 177 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho mẹ ruột của anh H nhận nhưng anh H vắng mặt không có lý do, do vậy không có lời trình bày của anh H. Anh H vắng mặt xem như từ bỏ quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh có ý kiến như sau:

Về Tố tụng: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định, không vi phạm về tố tụng. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do xem như anh H từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị D có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt chị D và anh H.

Về nội dung: chị D và anh H tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2016 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phước Ninh, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2020 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn kéo dài đến năm 2023 nguyên nhân; do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh H không chăm lo gia đình. Nay chị D xác định tình cảm vợ chồng thật sự không còn yêu cầu được ly hôn với anh H.

Xét thấy: Tình cảm vợ chồng không còn mục đích hôn nhân không đạt được, tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2023 quá trình ly thân hai bên không gặp mặt nhau và đưa ra giải pháp đoàn tụ gia đình và quan tâm đến nhau nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D và anh H. Về con chung: Có 01 con chung Trần Nguyễn Lê P, sinh ngày 25/4/2017, chị D yêu cầu nuôi con chung không yêu cầu cấp dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: các đương sự pH chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

Về Tố tụng: Quá trình giải quyết và tại phiên Toà hôm nay, anh H đã được tiến hành thủ tục cấp, tống đạt theo quy định tại Điều 177 của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng vắng mặt không lý do xem như anh H từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Căn cứ vào các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt anh Trần Minh H.

Chị Nguyễn Thị D có đơn xin xét xử vắng mặt căn cứ vào Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng tại phiên tòa.

Về nội dung: Chị Nguyễn Thị D và anh Trần Minh H tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phước Ninh, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh nên công nhận đây là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Quá trình giải quyết vụ kiện chị D giữ nguyên yêu cầu ly hôn đối với anh H.

Xét thấy: Hôn nhân giữa chị D và anh H đã phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh H không quan tâm đến gia đình, ham chơi chị D đã cho cơ hội đoàn tụ nhưng anh H không thay đổi nên đến tháng 2/2023 vợ chồng đã sống ly thân cho đến nay hai bên không quan tâm đến nhau mỗi người sống một nơi nên yêu cầu được ly hôn; do vậy tình trạng hôn nhân giữa chị D và anh H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D và anh H là có căn cứ.

Về con chung: Có 01 con chung Trần Nguyễn Lê P, sinh ngày 25/4/2017, chị D yêu cầu nuôi con chung không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Từ phân tích trên, xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Tòa án nên chấp nhận.

Về án phí: Các đương sự pH chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, 81 và Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, 227, 228 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị D và anh Trần Minh H.

2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị D tiếp tục được chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con Trần Nguyễn Lê P, sinh ngày 25/4/2017. Ghi nhận chị D không yêu cầu anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

4. Án phí Dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0013512 ngày 01 tháng 6 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, chị D đã nộp đủ tiền án phí.

5. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ