vanban.org

Bản án 76/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ;

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hồng P đối với ông Nguyễn Tấn L về việc yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn đối với cháu Nguyễn Quỳnh M, sinh ngày 14/11/2013. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Hồng P phải chịu số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng Nng được … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hồng Phượng - Nguyễn Tấn Lợi"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẾN TRE
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2023/HNGĐ-ST
Ngày 11/9/2023
V/v tranh chấp thay đổi người
trực tiếp nuôi con sau ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE - TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Thuở

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Anh Giàu

2. Bà Nguyễn Thị Trúc Giang

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Cẩm Trang - Thư ký Tòa án.

Ngày 11 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 238/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2023 về "Yêu cầu thay đổi người nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2023/QĐXX - HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 139/2023/QĐST-HNGĐ ngày 15/8/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Hồng P, sinh năm 1978

Địa chỉ: 592C3, khu phố 1, phường P, thành phố B, tỉnh B

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Trần Thị Ngọc Nh , sinh năm 1992. Địa chỉ: 33C ấp Mỹ An C, xã M, thành phố B, tỉnh B

Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn L, sinh năm 1976.

Địa chỉ: 592C3, khu phố 1, phường P, thành phố B, tỉnh B

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, người đại diện nguyên đơn trình bày:

Chị P và anh L đã ly hôn theo quyết định của Tòa án ngày 21/4/2022. Theo quyết định thì bà P nuôi cháu Nguyễn Quỳnh N sinh ngày 24/8/0224, anh L nuôi cháu Nguyễn Quỳnh M, sinh ngày 13/11/2013, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, chị P đã nhiều lần đến thăm cháu M mỗi lần như vậy ông L đều cản trở, cấm cản không cho chị P thăm con, chị P chỉ lén thăm cháu M khi cháu M đi học tại trường. Hiện tại cháu M ngày càng lớn có sự thay đổi về tâm sinh lý, anh L là đàn ông không thể chia sẽ những khó khăn của cháu ở tuổi dậy thì. Khi chị P đến găp cháu tại trường học, cháu M cũng có mong muốn về ở cùng chị P do anh L không chia sẽ tâm sự cùng cháu M. Vì để cho cháu M có môi trường phát triển thật hoàn thiện nên chị P yêu cầu thay đổi người nuôi cháu M, chị yêu cầu được nuôi cháu M, yêu cầu anh L cấp dưỡng cháu M mỗi tháng 3.000.000 đồng đến khi cháu M đủ 18 tuổi.

Theo bản tự khai, các lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Tấn L trình bày:

Ông đã nuôi con theo đúng nguyện vọng trong đơn ly hôn của bà Nguyễn Hồng P và quyết định số 82/2022/QĐST-HNGĐ ngày 21/4/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre. Trong một năm qua bằng tình thương và trách nhiệm, khả năng tài chính của mình ông vừa là cha vừa là chồng, là bạn, là mẹ của cháu Nguyễn Quỳnh M. Ông đã nuôi dạy con chu đáo, con phát triển tốt về thể chất, kết quả học tập xuất sắc được chứng minh bằng các giấy khen của cháu M. Không chỉ sau khi ly hôn mà từ khi cháu M còn học mẫu giáo đến bây giờ ông là gười lo cho gia đình bữa cơm, là người đưa rước con đi học, là người tối về bên canh dạy con học. Còn bà P thì đi sớm về muộn, nhiều lúc trưa cũng không về mặc dù từ nhà đến nơi làm việc chỉ cách 02 km, song bà P không quan tâm đến con, không biết con có gì để ăn chưa, kể cả việc học của con cũng không quan tâm,…Do dó, ông không đồng ý giao cháu M cho bà P nuôi, vì hiện tại ông chăm sóc cháu Nguyễn Quỳnh M rất tốt, cháu vẫn được đi học bình thường, cháu đang học tại trường Tiểu học Bến Tre. Việc bà P đến thăm con ông vẫn tạo điều kiện cho thăm chứ không có cấm cản N lời trình bày của bà P. Việc bà P trình bày nêu trong đơn là không đúng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật: Bà Nguyễn Hồng P khởi kiện yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn nên quan hệ pháp luật là "Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn " theo quy định tại khoản 3 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông Nguyễn Tấn L có nơi cư trú tại số phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre nên Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre có thẩm quyền giải quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Nội dung vụ án: Theo nội dung Quyết định số 82/2022/QĐST-HNGĐ ngày 21/4/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre về công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự có nội dung về con chung, bà P tiếp tục nuôi cháu Nguyễn Quỳnh N sinh ngày 28/4/2004, ông L tiếp tục nuôi cháu Nguyễn Quỳnh M, sinh ngày 13/11/2013. Các bên đã thực hiện theo nội dung quyết định nêu trên. Tuy nhiên, bà P cho rằng quá trình ông L nuôi cháu Quỳnh M bà nhiều đến thăm cháu M đều bị ông L cản trở, cấm cản không cho bà thăm, bà chỉ lén thăm con tại trường học. Hiện tại cháu M đang lớn có sự thay đổi về tâm sinh lý, ông L là đàn ông nên không thể chia sẽ những khó khăn của cháu M ở tuôi dậy thì, cháu M cũng có nguyện vọng muốn sống với bà, do đó bà yêu cầu xin được nuôi cháu M, yêu cầu ông L cấp dưỡng mỗi tháng 3.000.000 đồng. Ông L không đồng ý theo yêu cầu của bà P.

[4] Theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình thì việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây: “…Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.” “Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên”.

Xét thấy, ông Nguyễn Tấn L là người đang trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Quỳnh M, ông L vẫn còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu M. Bà Nguyễn Hồng P có cung cấp cho Tòa án văn bản ngày 30/3/2023 và ngày 07/9/2023 nêu ý kiến của cháu M là muốn sống với bà P. Tuy nhiên, khi Tòa án tiến hành ghi ý kiến của cháu M (ngày 14/7/2023) thì cháu M có nguyện vọng sống với ông L. Đồng thời, bà P không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ thể hiện việc yêu cầu xin thay đổi người nuôi con là cháu M là có căn cứ. Vì vậy, không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Hồng P về việc yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn đối với ông Nguyễn Tấn L.

[5] Về án phí: Do yêu cầu của bà Nguyễn Hồng P không được chấp nhận nên bà phải chịu án phí theo quy định của pháp luật là 300.000 đồng Nng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ;

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hồng P đối với ông Nguyễn Tấn L về việc yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn đối với cháu Nguyễn Quỳnh M, sinh ngày 14/11/2013.

2. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Hồng P phải chịu số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng Nng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002946 ngày 23 tháng 5 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre (Bà P đã nộp đủ án phí).

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ