vanban.org

Bản án 76/2023/DS-ST — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ các Điều 117, 122 Bộ luật dân sự năm 2015. Căn cứ các Điều 27, 37 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Ông Lê Văn C khởi kiện ông Bùi Quang N và bà Trần Thị M yêu cầu liên đới thanh toán nợ"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 122 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÒN ĐẤT
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2023/DS-ST.
Ngày: 23/8/2023
V/v:“Tranh chấp đòi tiền xuất phá t từ
Hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT – TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Nguyễn Văn Dũng

2. Bà: Phạm Hồng Gái

- Thư ký phiên tòa: ông Lê Quốc Tững - Thư ký TAND huyện Hòn Đất.

Trong ngày 23 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm Cg khai vụ án dân sự thụ lý số: 180/2023/TLST - DS ngày 08/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất về việc “Tranh chấp đòi tiền xuất phát từ Hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2023/QĐXX-ST ngày 08 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Lê Văn C, sinh năm 1967 (Có mặt)

Nơi cư trú: ấp G, xã B, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

Bị đơn: Ông Bùi Quang N, sinh năm 1966 (Vắng mă ̣t có đơn)

Bà Trần Thị M, sinh năm 1967 (Vắng mă ̣t có đơn)

Nơi cư trú: ấp R, xã B, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/02/023, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Lê Văn C trình bày như sau:

Vào ngày 08/3/2015, ông Lê Văn C có ủi đất ruô ̣ng thuê cho vợ chồng ông Bùi Quang N và bà Trần Thị M vớ i khoản tiền Cg là 52.810.000đồng (Năm mươi hai triê ̣u tám trăm mười nghìn đồng ). Sau khi ủi xong, do không có tiền thanh toán nên hai bên thỏa thuận lâ ̣p tờ “Giấy cố đất ruô ̣ng” đề ngày 19/9/2015. Theo đó ông ông Bùi Quang N, bà Trần Thị M giao cho ông Lê Văn C 04ha đất ruô ̣ng (đất mớ i ủi) để canh tác trong thờ i ha ̣n 03 năm, kể từ ngày ký giấy cố đất. Khi hết thờ i hạn cố đất phia ông N,

́ bà M trả lại khoản tiền 52.810.000đồng cho ông C và phía ông C giao trả lại đất cho ông N và bà M, nếu không có tiền trả thì ông Lê Văn C được tiếp tu ̣c canh tác. Tuy nhiên sau khi hết ha ̣n, mă ̣c dù phia ông Bùi Quang N, bà Trần Thị M không có tiền trả

́ cho ông C, nhưng do phần đất cố canh tác không hiê ̣u quả nên ông Lê Văn C đa giaõ trả lại đất cho ông N, bà M quản lý sử dụng.

Đến ngày 15 tháng 11 năm 2022, ông Bùi Quang N viết giấy cam kết hẹn đến ngày 30/11/2022 sẽ trả đủ tiền cho ông C, tuy nhiên ông N không thực hiê ̣n nên ông C làm đơn thưa gở i ban lanh đa ̣̃

o ấp Ranh Ha ̣t

, xã Bình Giang giải quyết . Ngày 03/01/2023, tại buổi hòa giải ông Bùi Q uang N thừ a nhâ ̣n còn nợ và đồng ý trả cho ông C số tiền 52.810.000 đồng trong thờ i ha ̣n 01 tháng nhưng sau đó ông N vẫn không thực hiện, nên ông Lê Văn C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên Tòa, ông Lê Văn C giữ nguyên yêu cầu khở i kiê ̣n đề nghi ̣ Tòa án giải quyết buô ̣c vợ chồng ông Bùi Quang N và bà Trần Thị M liên đới thanh toán số tiền nợ là 52.810.000 đồng (Năm mươi hai triê ̣u tám trăm mườ i nghin đồng) cho ông Lê

̀ Văn C. Ngoài ra không yêu cầu gi thêm.

̀

Tại bản tự khai ngày 21/7/2023, bị đơn ông Bùi Quang N trình bày như sau:

Vào ngày 08/3/2015 ông Bùi Quang N có thuê ông Lê Văn C quốc đất vớ i khoản tiền Cg là 52.810.000 đồng, do không có khả năng trả nên tự n guyê ̣n giao cho ông C 04ha đất ta ̣i ấp Ranh Ha ̣t, xã Bình Giang trong thời hạn 03 năm. Hết ha ̣n ông C đa giaõ trả lại đất nhưng ông Bùi Quang N chưa trả la ̣i được cho ông C khoản tiền 52.810.000 đồng. Nay ông C yêu cầu trả nợ thì ông N đồng ý , tuy nhiên hiê ̣n hoàn cảnh kinh tế khó khăn vì đang mắc bệnh ung thư không lao động được , nên đề nghi ̣ được thanh toán dần hàng tháng là 5.000.000 đồng. Ông N không yêu cầu ông C phải giao trả đất vì đất cố ông C đa giao trã

̉ cho ông N sử du ̣ng.

Tại bản tự khai ngày 21/7/2023 bị đơn ông bà Trần Thị M trình bày như sau:

Thống nhất lờ i khai của ông Bùi Quang N tại bản tự khai ngày 21/7/2023, hiê ̣n ta ̣i ông Bùi Quang N bị bệnh Ung thư đang phải điều tri ̣ ta ̣i bê ̣nh viê ̣n cơ sở 2 thành phố Thủ Đức nên chưa đi làm được , sau khi ông Bùi Quang N hết bê ̣nh se thanh toã

́n nợ cho ông C dần theo tháng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về tố tụng: Bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin vắng mặt. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn có đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán tiền nợ theo hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất (các đương sự không có tranh chấp về hợp đồng cầm cố ). Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp vụ án là “Đòi lại tiền xuất phá t từ hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất”; Bị đơn có nơi cư trú tại huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án huyện Hòn Đất; Theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn C yêu cầu đồng bi ̣ đơn ông Bùi Quang N và bà Trần Thị M liên đớ i trả lại tiền cố đất:

Ngày 19/9/2015, ông Lê Văn C vớ i vợ chồng ông Bùi Quang N, bà Trần Thị M thỏa thuận lâ ̣p tờ “Giấy cố đất ruô ̣ng”. Theo thỏa thuận ông Bùi Quang N, bà Trần Thị M cầm cố cho ông Lê Văn C 04ha đất ruô ̣ng để canh tác trong thờ i ha ̣n 03 năm, vớ i khoản tiền cố đất là 52.810.000đồng (tương ứ ng vớ i khoản tiền Cg ủi đất mà ông N và bà M nợ ông C). Khi hết thờ i hạn ông Lê Văn C đa giao trã

̉ la ̣i 04 ha đất cố cho ông N, bà M quản lý sử dụng . Tuy nhiên phía ông N, bà M chưa trả lại khoản tiền nợ 52.810.000đồng cho ông Lê Văn C. Quá trình tố tụng, vợ chồng ông Bùi Quang N và bà Trần Thi ̣ M có bản khai thừa nhận có giao kết hợp đồng cố đất vớ i ông Lê Văn C, phía ông C đã giao trả lại đất cho ông N và bà M, nay đồng ý trả la ̣i số tiền số tiền 52.810.000đồng theo yêu cầu khở i kiê ̣n của ông C. Như vâ ̣y, đây là vấn đề không phải chứ ng minh theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 92 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự năm 2015.

Mă ̣c dù các bên được sự xác nhâ ̣n không có tranh chấp về hợp đồng cố đất đất, tuy nhiên do các bên xác lâ ̣p hợp đồng cố đất là trái với quy định của pháp luật đất đai nên hợp đồng này vô hiê ̣u, các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận . Ông Bùi Quang N, bà Trần Thị M phải trả liên đớ i trả lại khoản tiền 52.810.000đồng cho ông Lê Văn C. Phía ông Bùi Quang N, bà Trần Thị M đa nhâ ̣̃

n la ̣i 04ha đất cầm cố nên không có yêu cầu gi, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

̀

Xét ý kiến của bi ̣ đơn xi n được trả dần khoản tiền nợ của bị đơn : Ông Bùi Quang N và bà Trần Thị M có ý kiến được trả dần khoản nợ vì hoàn cảnh ông N đang bê ̣nh tâ ̣t, kinh tế gia đinh khó khăn. Tại phiên tòa ông Lê Văn C không đồng ý vi phia

̀

̀

́ bị đơn đã hứa nhiều lần nhưng không thực hiện, do đó Hô ̣i đồng xét xử không có cơ sở để xem xét vì k hả năng thanh toán nợ của bị đơn sẽ được xem xét tại giai đoạn thi hành án.

Về án phi dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân

́ sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí và được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp; Bị đơn phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 5% trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn 52.810.000đồng x 5% = 2.640.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ các Điều 117, 122 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Căn cứ các Điều 27, 37 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

- Áp dụng Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí;

Tuyên Xử:

1.Tuyên bố hợp đồng cố đất lâ ̣p ngày 19/9/2015 giữa ông Lê Văn C vớ i vợ chồng ông Bùi Quang N và bà Trần Thị M vô hiê ̣u.

2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn C.

Buộc ông Bùi Quang N và bà Trần Thị M liên đới trả cho ông Lê Văn C số tiền nợ là 52.810.000 đồng (năm mươi hai triê ̣u tám trăm mườ i nghin đồng).

̀

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, thì người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên bị yêu cầu thi hành án còn phải chịu một khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án cho đến khi thi hành xong bản án.

3. Về án phi dân sự sơ thẩm: ông Lê Văn C không phải nộp tiền án phí nên được

́ nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.320.000đồng (Mô ̣t triê ̣u ba trăm hai mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0009817, ngày 21/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòn Đất.

Ông Bùi Quang N và bà Trần Thị M phải liên đới nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm là 2.640.000 đồng (Hai triê ̣u sáu trăm bốn mươi nghin đồng)

̀

4. Quyền kháng cáo: Báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, riêng bị đơn vắng mặt được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ