vanban.org

Bản án 76/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội Tuyên án 27/10/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Chu Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt Chu Văn N 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt để thi hành án được trừ thời hạn tạm giam từ ngày 19/5/2022 đến ngày 28/5/2022; Buộc Chu Văn N phải bồi thường cho Công ty Điện lực Hà Nội số tiền là 15.192.000 đồng (Mười lăm triệu, một trăm chín mư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Chu Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN N DÂN
HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:76/2022/HSST
Ngày: 27/10/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN N DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Thanh Minh

Các Hội thẩm N dân: Ông Đặng Viết Côi và bà Nguyễn Thị Vân

-Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng – Thư ký Tòa án N dân huyện Ứng Hòa.

-Đại diện Viện kiểm sát N dân huyện Ứng Hoà tham gia phiên toà: Ông Nguyênx Tuấn Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 10 năm 2022, tại Trụ sở Toà án N dân huyện Ứng Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 74/2022/HSST ngày 05/10/2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2022/QĐXXST-HS ngày13/10/2022 đối với bị cáo:

Chu Văn N - sinh năm: 1975, Nơi ĐKHKTT và nơi ở: NĐ, xã PT, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 06/12; giới tính: Nam; tôn giáo: không; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Văn Ngâm – sinh năm: 1944 và con bà Nguyễn Thị Minh – đã chết; vợ: Lê Thị Dầu – sinh năm: 1973; con: 04 con, lớn sinh năm: 1994; nhỏ sinh năm: 2013; Tiền án, tiền sự: không; N thân: Ngày 28/11/2000, bị Tòa án N dân tối cao tại Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 07/02/2002 (Đã được xóa án tích).

Bị can đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 19/5/2022 đến ngày 28/5/2022 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ, áp dụng “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú”và “Tạm hoãn xuất cảnh”. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

+ Tổng công ty điện lực thành phố Hà Nội

Đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Danh Duyên – Tổng giám đốc công ty Điện lực TP. Hà Nội

Đại diện theo uỷ quyền: Ông Trần Quốc Tuấn – Phó giám đốc công ty

điện lực huyện Ứng Hoà, TP. Hà Nội (có đơn xin xét xử vắng mặt.)

Đại chỉ: phố Quang Trung, TT. Vân Đình, huyện Ứng Hoà, Tp. Hà Nội

- Người làm chứng:

+ Anh Nguyễn Xuân T – sinh năm: 1984 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Hoàng Dương, xã Sơn Công, huyện Ứng Hoà, Tp. Hà Nội

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do khu trang trại của gia đình Chu Văn N, sinh năm 1975, tại thôn NĐ, xã PT, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội ở phía sau Trụ sở của Đội dịch vụ khách hàng thuộc Công ty điện lực huyện Ứng Hòa, nên N biết được buổi tối không có người trông giữ. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 16/5/2022, N lấy 01 cờ lê đi sang khu vực phía sau kho chứa đồ của Đội dịch vụ khách hàng, rồi trèo lên bể nước mưa nhà mình (giáp với phía sau kho chứa đồ), N dùng cờ lê tháo 04 ốc vít bắt chân tấm tôn phía ngoài của vách tôn phía sau kho chui vào phía trong thấy hệ thống camera báo động của kho hoạt động, đèn điện bật sáng. Sợ bị phát hiện N chui ra nhưng thấy bên trong không có động tĩnh gì, N lại chui vào trong kho ngắt điện hệ thống camera. Sau đó, N lấy 10 bu lông kim loại loại M20 đưa ra bên ngoài qua khe hở vừa chui vào, N lấy 01 cuộn dây cáp vặn xoắn loại CADI PHUNGHIA ELECTRIC CABLE 0,6/1KV AL/XLPE ABC 4x95 dài 45m trong kho đưa 01 đầu dây ra bên ngoài qua khe hở vách tôn, rồi N chui ra cầm đầu sợi dây kéo đoạn dây cáp điện ra ngoài. Sau khi trộm cắp xong, N vặn lại các ốc bắt chân vách tôn, giấu các bu lông tại vườn và cất giấu cuộn dây điện dưới ao cá nhà mình.

Nhận được tín hiệu báo động từ camera kho của Đội, anh Nguyễn Xuân Trường, sinh năm 1984, trú tại thôn Hoàng Dương, xã Sơn Công, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội là Đội trưởng đội dịch vụ khách hàng đã kiểm tra camera, phát hiện có người đột nhập vào kho trộm cắp tài sản, nên anh Trường đã báo cáo Ban giám đốc, kiểm tra tài sản bị trộm cắp và trình báo Công an xã PT. Qua kiểm tra camera, Công an xã PT đã triệu tập Chu Văn N đến trụ sở để làm việc. Quá trình làm việc, N đã xin đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình và tự nguyện giao nộp cuộn dây cáp điện cất giấu dưới ao cá và 01 cờ lê sử dụng để tháo ốc vít. Đối với 10 bu lông kim loại đã trộm cắp, N đã bán lấy tiền tiêu sài cá N hết.

Ngày 19/5/2022, sau khi xác minh ban đầu Công an xã PT đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc đến Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ứng Hòa để điều tra theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ:

- 45 mét dây cáp điện vặn soắn gồm 04 sợi quấn với nhau, bên ngoài bọc nhựa màu đen in dòng chữ CADI PHUNGHIA ELECTRIC CABLE 0,6/1KV AL/XLPE ABC 4x95, bên trong mỗi sợi có nhiều sợi kim loại màu trắng.

- 01 Cờ lê bằng kim loại màu đen, dài 13cm, một đầu rộng 2,4cm, một đầu rộng 02cm, trên thân có dòng chữ 10 CHROM VANADIUM 8.

Với hành vi nên trên cáo trạng số 73/CT-VKS ngày 04/10/2022 của Viện kiểm sát N dân huyện Ứng Hòa truy tố Chu Văn N về tội: “Trộm cắp tài sản” qui định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo đã thừa nhận hành vi như bản Cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 điều 173 BLHS; Điểm g khoản 1 điều 52; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Điều 38 BLHS tuyên phạt bị cáo từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/5/2022 đến ngày 28/5/2022.

Về hình phạt bổ sung: Không.

Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 589 Bộ luật Dân sự buộc Chu Văn N phải bồi thường trả Công ty điện lực Hà Nội số tiền là 15.192.000 đồng.

Vật chứng: tịch thu tiêu hủy: 01 Cờ lê bằng kim loại màu đen, dài 13cm, một đầu rộng 2,4cm, một đầu rộng 02cm, trên thân có dòng chữ 10 CHROM VANADIUM 8.

Về án phí: Căn cứ điều 135, 136 BLTTHS; NQ 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14 về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quá trình tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đều thực hiện đúng, đầy đủ các qui định của pháp luật.

Tại phiên toà bị cáo nhận tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng đã thu giữ được cùng các tài liệu khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định: Trong khoảng thời gian từ ngày 30/4/2022 đến ngày 16/5/2022, tại kho Đội dịch vụ khách hàng - Công ty điện lực huyện Ứng Hòa, thuộc thôn NĐ, xã PT, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội, Chu Văn N đã 05 lần đột nhập lén lút chiếm đoạt 01 cuộn dây cáp vặn xoắn loại CADI PHUNGHIA ELECTRIC CABLE 0,6/1KV AL/XLPE ABC 4x95 dài 45m; 10 bu lông kim loại loại M20; 07 cọc tiếp địa; 04 thanh xà nánh; 70 thanh xà kèm ngọn cột; 15thanh xà chính; 15 thanh kèm của bộ giá đỡ hòm công tơ; 08 thanh kèm xà nánh; 80 móc chữ “S”; 06 thanh giá đỡ hộp tụ bù; 10 kg dây điện lõi đồng gồm nhiều đoạn có chiều dài từ 15 đến 20cm. Tổng giá trị các tài sản N đã chiếm đoạt được là 19.467.000 đồng.

Do vậy, hành vi trên của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo với tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng N dân. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc mới có thể có tác dụng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo Chu Văn N 05 lần thực hiện hành vi trộm cắp, chiếm đoạt tổng giá trị tài sản 19.467.000 đồng nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo đầu thú là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Trách nhiệm dân sự: Người đại diện của Tổng công ty điện lực TP Hà Nội là ông Trần Quốc Tuấn - Phó giám đốc Công ty điện lực huyện Ứng Hòa có quan điểm đề nghị Chu Văn N bồi thường cho Tổng công ty điện lực số tiền tương ứng với số tài sản mà Công ty đã kê khai là 37.074.563 đồng. Tuy nhiên, quá trình điều tra vụ án chứng minh được tổng giá trị tài sản mà Chu Văn N chiếm đoạt của Công ty điện lực Hà Nội là: 19.467.000 đồng. Trong đó, có 45 mét dây cáp điện vặn soắn gồm 04 sợi quấn với nhau, bên ngoài bọc nhựa màu đen in dòng chữ CADI PHUNGHIA ELECTRIC CABLE 0,6/1KV AL/XLPE ABC 4x95, bên trong mỗi sợi có nhiều sợi kim loại màu trắng trị giá 4.275.000 đồng đã được trả lại cho Công ty điện lực Hà Nội. Do đó, buộc bị cáo N phải bồi thường cho công ty Điện lực Hà Nội số tiền là 15.192.000 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về vật chứng: tịch thu tiêu huỷ: 01 cờ lê bằng kim loại màu đen dài 13cm, một đầu rộng 2,4cm, một đầu rộng 2cm, trên thân in dòng chữ 10 CHROM VANADIUM 8.

Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 BLTTHS năm 2015

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 46; 47 của Bộ luật Hình sự. Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 589 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Toà án;

1.Tuyên bố bị cáo Chu Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”

2. Xử phạt Chu Văn N 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt để thi hành án được trừ thời hạn tạm giam từ ngày 19/5/2022 đến ngày 28/5/2022;

3. Buộc Chu Văn N phải bồi thường cho Công ty Điện lực Hà Nội số tiền là 15.192.000 đồng (Mười lăm triệu, một trăm chín mươi hai nghìn đồng.).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người có đơn yêu cầu thi hành án tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6;7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành ấn dân sự.

4. Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu huỷ 01 cờ lê bằng kim loại màu đen dài 13cm, một đầu rộng 2,4cm, một đầu rộng 2cm, trên thân in dòng chữ 10 CHROM VANADIUM 8.

5. Về án phí: Bị cáo Chu Văn N phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 759.600 (Bảy trăm, năm mươi chín nghìn, sáu trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ