vanban.org

Bản án 76/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 07/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh N phạm tội: "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

X phạt bị cáo: Nguyễn Thị Thanh N 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/11/2021. . Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều Bộ luật hình sự 2 1 , s a đổi bổ sung năm 2 1 , Điều 1 6 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Thanh N lừa đảo - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh N phạm tội: "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 1 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2022/HS-ST
Ngày 07-4-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Châm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Trường

Ông Đặng Song Hoàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày tháng năm 2 22, tại trụ s Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu t công khai vụ án hình sự sơ th m thụ lý số 34/2022 HSST ngày 1 tháng 02 năm 2 22, theo Quyết định đưa vụ án ra t

số 97/2 22 QĐXXST-HS ngày 23 tháng 3 năm 2 22, đối v i bị cáo:

Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1996 tại tỉnh Tiền Giang; Hộ kh u thường trú và chỗ trư c khi bị bắt: Ấp C, xã K, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Gi i tính: Nữ; Cha: Nguyễn Văn Đ; Mẹ: Võ Thanh T; Chồng, con: Chưa có.

Tiền án; Tiền sự: Không

Bị bắt ngày 25 tháng 11 năm 2 21, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Vũng Tàu. Có mặt.

Bị hại: Ông Lê Đình C, sinh năm: 19 2; Địa chỉ: số… đường Ô, Phư ng 9, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Nguyễn Thị Như H, sinh năm 2 ; Địa chỉ: số… đường L, phường Thắng Nhì, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại

phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

V i mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ngày 1 1 2 21, Nguyễn Thị Thanh N s dụng điện thoại di động Iphone S; Dung lư ng: 16GB; Màu: trắng ám; Số Imei 3 6

169 12 gắn sim thuê bao số điện thoại 399 62 61 và đăng nhập mạng ã hội (facebook) có tên hiển thị “Minh Minh” để liên lạc, trao đổi v i c a hàng điện thoại di động Táo Mỹ tại thành phố Vũng Tàu, N tự gi i thiệu tên “Minh” và hỏi mua điện thoại Iphone 13 Proma , dung lư ng 12 Gb, màu anh dương. Qua trao đổi, ông Lê Đình C là chủ c a hàng điện thoại Táo Mỹ và N thống nhất giá mua bán 1 (một) chiếc điện thoại Iphone 13 Proma như nêu trên là 2.999. đ (Bốn mươi hai triệu, chín trăm, chín mươi chín nghìn đồn) đồng thời hẹn địa điểm giao nhận hàng là quán nư c Bobapop (địa chỉ: số 93 đường Lê L i, phường Thắng Nhì, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu). Sau khi thỏa thuận, ông C đã mang chiếc điện thoại đi giao cho N. Khi đến địa chỉ số 93 đường Lê L i, phường Thắng Nhì, thành phố Vũng Tàu, ông C liên lạc cho N thì đư c N yêu cầu mang điện thoại vào quán Bobapop đưa cho quản lý quán tên “Minh” rồi đến địa chỉ số Lê Hồng Phong, Phường , thành phố Vũng Tàu để lấy tiền. Ông C không nghi ngờ gì và đồng ý thực hiện theo yêu cầu của N. Ông C đã mang chiếc điện thoại Iphone 13 Proma vào bên trong quán trà sữa tìm người quản lý tên Minh để giao điện thoại. Nhân viên quán trà sữa đồng ý nhận hàng từ ông C vì trư c đó N đã liên hệ điện thoại đặt mua 12 ly trà sữa tại quán Bobapop và có nhờ nhân viên quán trà sữa Bobabop nếu có ai đưa đồ thì nhận giúp N. Sau khi N ác định ông C đã giao máy cho nhân viên quán trà sữa Bobapop thì đồng thời N đã đặt nhân viên giao nhận hàng (qua app Ahamove) đến quán trà sữa Bobabop địa chỉ số 93 Lê L i, phường Thắng Nhì, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu lấy chiếc điện thoại Iphone 13 Proma nêu trên giao đến số đường Trần Phú, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cho N. Sau đó, nhân viên giao hàng đã đến quán trà sữa Bobabop nhận chiếc điện thoại Iphone 13 Proma và mang đến địa chỉ N đã đặt qua ứng dụng. Khi nhân viên giao hàng mang chiếc điện thoại trên đến địa điểm giao hàng không thấy N nên đã gọi điện cho N, thì N tiếp tục yêu cầu nhân viên giao hàng mang chiếc điện thoại nêu trên đến nhà e Toàn Thắng tại số 29 Thống Nhất, Phường , thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để g i chiếc điện thoại nêu trên lên Thành phố Hồ Chí Minh cho N. Nhà e Toàn Thắng g i hàng đến Thành phố Hồ Chí Minh, N tiếp tục đặt nhân viên giao nhận hàng (thông qua App Ahamove) để nhận hàng và chuyển chiếc điện thoại trên về ấp C, xã K, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang cho N để chiếm đoạt và s dụng.

Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Vũng Tàu, Nguyễn Thị Thanh N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên. (Bút lục điều tra từ số 61 đến số )

Căn cứ bản kết luận định giá tài sản số 140/KL-HĐĐG -TTHS ngày 31/10/2021 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự thành phố Vũng Tàu kết luận: giá trị chiếc điện thoại di động hiệu Apple; Kiểu máy: Iphone 13 Proma ; Dung lư ng: 12 GB; Màu: anh dương (Sierra Blue); số Imei 3 9 1126333

. Tình trạng máy: Sản ph m m i chưa kích hoạt, tại thời điểm bị chiếm đoạt là 33.500.000 đồng.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường h p ít nghiêm trọng, quá trình điều tra, bị can thành kh n khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng trong vụ án:

- 1 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Proma ; Dung lư ng: 12 GB; Màu: anh dương (Sierra Blue); số Imei 3 9 1126333

; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Vũng Tàu đã ra Quyết định lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho ông Lê Đình C chiếc điện thoại nêu trên.

- 01 ĐTDT hiệu Iphone S, dung lư ng 16GB, màu trắng ám, số IMEI: 3 6

169 12; 1 sim điện thoại mạng Viettel có ghi dãy số 9

229613 . Hiện nay đã đư c chuyển đến cơ quan thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý, chờ

lý.

Về trách nhiệm dân sự trong vụ án: Ông Lê Đình C sau khi nhận lại tài sản và nhận số tiền 1 . . đồng từ N và gia đình (là tiền chênh lệch đối v i chiếc điện thoại Iphone trong thời bị can chiếm đoạt s dụng), ông C không có yêu cầu gì thêm và có đơn in bãi nại cho N.

Cáo trạng số: 44/CT-VKSTPVT ngày 1 2 2 22 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố Nguyễn Thị Thanh N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 1 Bộ luật hình sự năm 2 1 , s a đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo thành kh n khai báo, ăn năn hối cải, giữ nguyên lời khai tại cơ quan cảnh sát điều tra, công nhận nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng.

Chị Trần Nguyễn Thị Như H là nhân viên của quán trà sữa Bobapop không yêu cầu bị cáo có nghĩa vụ bồi thường 12 ly trà sữa đã đặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu giữ nguyên quan điểm truy tố đối v i Nguyễn Thị Thanh N và đề nghị Hội đồng t : Áp dụng khoản 1 Điều 1 , điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 1, Điều 3 Bộ luật hình sự năm 2 1 , s a đổi bổ sung năm 2 1

phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh N từ 09 tháng đến 12 tháng tù; không áp dụng hình phạt tiền do bị cáo hoàn cảnh khó khăn, không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định.

Về lý vật chứng: Áp dụng Điều Bộ luật hình sự 2 1 , s a đổi bổ sung năm 2 1 , Điều 1 6 Bộ luật tố tụng hình sự 2 1 : Tịch thu sung vào N sách nhà nư c 1 (Một) chiếc điện thoại di dộng hiệu Iphone 5S và 1 sim điện thoại mạng Viettel có dãy số 0984048000002296135 thu giữ của bị cáo vì liên quan đến hành vi phạm tội.

Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết ong nên không em t.

Bị cáo Nguyễn Thị Thanh N nói lời sau cùng in Hội đồng t

em t giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về th m quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều h p pháp.

Về sự vắng mặt của bị hại: Bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đầy đủ lời khai tại cơ quan điều tra, bị hại không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự và không có yêu cầu về bồi thường thiệt hại, bị cáo, đại diện Viện kiểm sát thành phố Vũng Tàu tham gia phiên tòa không yêu cầu hoãn phiên tòa nên Tòa án tiến hành t vắng mặt bị hại Lê Đình C theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

. Về nội dung vụ án:

Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Thanh N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. X t lời khai nhận tội của bị cáo phù h p các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù h p, Hội đồng t có đủ cơ s để ác định:

V i mục đích chiếm đoạt tài sản để s dụng, Nguyễn Thị Thanh N đã dùng thủ đoạn gian dối, thông qua mạng facebook v i tên “Minh Minh” để liên lạc trao đổi v i ông Lê Đình C, chủ c a hàng điện thoại Táo Mỹ nhằm chiếm đoạt 1 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro Ma dung lư ng 12 GB mà Siera Blue số Imei 3 9 112633

có giá trị 33. . đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thị Thanh N đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt đư c quy định tại khoản 1 Điều 1 Bộ luật hình sự năm 2 1 , s a đổi bổ sung năm 2 1 .

Điều 1 Bộ luật hình sự 2 1 quy định:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố vũng Tàu truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thanh N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 1 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định.

. Tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho ã hội, xâm phạm quyền s hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự an ninh ã hội tại địa phương. Bị cáo là người đã trư ng thành, hoàn toàn nhận thức đư c hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần lý nghiêm theo quy định của pháp luật, nhằm giáo dục cải tạo riêng đối v i bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

. Tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường h p ít nghiêm trọng; trong quá trình tố tụng bị cáo thành kh n khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện khắc phục hậu quả 1 . . đ (Mười triệu đồng) tiền chênh lệch đối v i chiếc điện thoại trong thời gian bị cáo chiếm đoạt, s dụng; bị hại có đơn bãi nại cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết ong nên Hội đồng t không xem xét.

. X lý vật chứng: Tịch thu, sung công quỹ 1 điện thoại di động hiệu Iphone S dung lư ng 16GB màu trắng ám số Imel 3 6

169 12 và 1 sim điện thoại mạng Viettel có dãy số 9

229613 thu giữ của bị cáo vì liên quan đến hành vi phạm tội.

. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Từ các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh N phạm tội: "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

Áp dụng khoản 1 Điều 1 ; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 1, Điều 3 , Bộ luật Hình sự 2 1 , s a đổi bổ sung năm 2 1 .

X phạt bị cáo: Nguyễn Thị Thanh N 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/11/2021.

2. . Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều Bộ luật hình sự 2 1 , s a đổi bổ sung năm 2 1 , Điều 1 6 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

Tịch thu, sung ngân sách Nhà nư c 01 điện thoại di động hiệu Iphone S dung lư ng 16GB màu trắng ám, số Imel 3 6

169 12 kèm 1 sim điện thoại mạng Viettel có dãy số 9

229613 thu giữ của bị cáo vì liên quan đến hành vi phạm tội.

Các vật chứng trên hiện đang thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng số 6 BB.THA ngày 18 tháng 02 năm 2 22.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 2 16 UBTVQH1 ngày 3 12 2 16 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Thị Thanh N chịu 2 . đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ th m.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2 1 : Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 1 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 1 ngày kể từ ngày nhận đư c bản án hoặc bản án đư c niêm yết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan có tại phiên tòa đư c quyền kháng cáo phần bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền l i, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 1 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ