- Tranh chấp gì? án hình sự — "trần Xuân P - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Xuân Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC TỈNH NGHỆ AN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 76/2022/HS-ST Ngày 17 - 8 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Hồng Thể
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Hoà
Ông Trần Danh Tuyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Kỳ
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc tham gia phiên tòa: Ông Đặng Hồng Quân - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 77/2022/TLST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2022/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Trần Xuân Ph - sinh ngày 11 tháng 7 năm 1983 tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: xóm K, xã H, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam; Con ông Trần Văn Tr và bà Trần Thị H; vợ, con: chưa có; Tiền sự, tiền án: không; Nhân thân: ngày 28/3/2003 bị TAND thành phố Vinh tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; ngày 29/11/2004 bị TAND thị xã Cửa Lò tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; ngày 22/12/2015 bị TAND thành phố Vinh tỉnh Nghệ An xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 01/8/2013 bị Công an thành phố Vinh xử phạt tiền (1.500.000 đồng) về hành vi trộm cắp tài sản; ngày 25/10/2017 bị TAND thành phố Vinh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 15 tháng. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/3/2022 đến ngày 11/6/2022 thì bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: bà Trần Thị H – sinh năm 1956; Địa chỉ: xóm K, xã H, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: ông Đinh Sỹ Đức – Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư Lê Anh – Đoàn Luật sư tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Bị hại: anh Đặng Văn D – sinh năm 1971; địa chỉ: xóm T, xã T, huyện Nghi Lộc, Tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Nguyễn Công H – sinh năm 1982; Địa chỉ: khối 4 phường T, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ kết quả trình báo của người dân và sàng lọc đối tượng nghi vấn, đến ngày 08/02/2022, Trần Xuân Ph đã đến Công an xã T, giao nộp số tiền 1.500.000 đồng, 01 chiếc xe moto nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen BKS 37B3-149.06 và đầu thú về hành vi vi phạm pháp luật như sau:
Vào khoảng 12 giờ ngày 30/01/2022, Ph điều khiển xe moto BKS 37B3-149.06 đi từ nhà đến xã T với mục đích trộm cắp tài sản. Khi đi đến xóm T, xã T, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An thì thấy cổng và cửa chính nhà anh Đặng Văn D không khoá nên Phương đi vào bên trong, lấy trộm 01 chiếc tivi màn hình phẳng màu đen nhãn hiệu Panasonic 43inch để ở phòng khách. Sau khi lấy trộm, Ph mang đến bán cho anh Nguyễn Công H được 2.500.000 đồng, đã tiêu xài hết 1.000.000 đồng, số tiền còn lại thì giao nộp cho Công an xã T. Ph thừa nhận, tiền mua xe là tiền do Ph tự ý lấy của mẹ bà Trần Thị H và Ph đứng tên trong Giấy đăng ký xe.
Ngày 08/02/2022, anh H đã giao nộp chiếc tivi mua được từ Ph cho Công an huyện Nghi Lộc và yêu cầu Ph phải bồi thường số tiền 2.500.000 đồng. Bà Trần Thị H yêu cầu được nhận lại chiếc xe moto BKS 37B3-149.06 vì chiếc xe này do Ph lấy tiền của bà mua và tự ý đứng tên.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 07/KL.ĐG ngày 28/02/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện Nghi Lộc kết luận: 01 chiếc tivi màn hình phẳng màu đen nhãn hiệu Panasonic 43inch trị giá 4.000.000 đồng.
Theo Kết luận giám định số 14/KLGĐ ngày 01/7/2022 của Phân viện Pháp y tâm thần Bắc Miền Trung, Trần Xuân Ph là người bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội.
Ngày 08/7/2022, cơ quan điều tra nộp số tiền 1.500.000 đồng vào Kho bạc nhà nước huyện Nghi Lộc và ngày 01/8/2022 chuyển xe moto BKS 37B3-149.06 sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An bảo quản chờ xét xử.
Tại bản cáo trạng số 82/CT-VKS-NL ngày 25/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc truy tố bị cáo Trần Xuân Ph về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo không khai báo. Người đại diện hợp pháp của bị cáo (bà H) thừa nhận hành vi phạm tội đúng như truy tố và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Bà H xin được nhận lại tài sản là chiếc xe moto BKS 37B3-149.06 vì đó là tài sản hình thành từ nguồn tiền 23.000.000 đồng của bà mà bị cáo đã tự ý lấy mua và đứng tên chủ sở hữu khi không được sự cho phép của bà. Sự việc này đã được Uỷ ban nhân dân xã H xác nhận. Do bị cáo đã lỡ mua và bên bán xe xuất hoá đơn nên giấy tờ xe mang tên bị cáo nhưng bà khẳng định chiếc xe là tài sản của bà. Ngày 30/01/2022, trong lúc bà đi gieo mạ thì bị cáo đã tự lấy xe và thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
- Bị hại vắng mặt nhưng quá trình điều tra thừa nhận đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm về phần dân sự.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Công H xin xét xử vắng mặt và chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.500.000 đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử đề nghị: giữ nguyên việc truy tố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị áp dụng điểm b, s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; buộc bị cáo và bà H phải bồi thường cho anh H 1.500.000 đồng; xử lý vật chứng: sung quỹ nhà nước chiếc xe moto BKS 37B3-149.06; bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo thống nhất với truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo với mức án thấp nhất của khung hình phạt. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe moto BKS 37B3-149.06 cho bà Hoa vì có căn cứ để chứng minh đó là tài sản được hình thành từ nguồn tiền của bà Hoa (quá trình điều tra, bị cáo cũng thừa nhận điều này).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
- Trong quá trình điều tra: Điều tra viên được phân công điều tra đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng về việc kiểm tra, xác minh, lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm; lập hồ sơ vụ án; hỏi cung bị can; xử lý vật chứng; giao nhận các văn bản tố tụng đúng thời hạn.
- Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Kiểm sát viên đã thực hiện nghiêm túc hoạt động kiểm sát điều tra; tham gia phiên tòa đúng thời gian, địa điểm; công bố bản cáo trạng; tham gia xét hỏi, luận tội, tranh luận và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án đồng thời thực hiện việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án cũng như người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử.
Do các hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đều tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự nên hợp pháp và được sử dụng làm chứng cứ để Hội đồng xét xử xem xét.
Về nội dung:
Tại phiên toà hôm nay mặc dù bị cáo không khai báo nhưng căn cứ vào lời trình bày của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của những người tham gia tố tụng khác và vật chứng được thu giữ, các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: khoảng 12 giờ ngày 30/01/2022, tại khu vực xóm T, xã T, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, lợi dụng sơ hở của chủ tài sản, Trần Xuân Ph lén lút chiếm đoạt 01 chiếc tivi màn hình phẳng màu đen nhãn hiệu Panasonic 43inch trị giá 4.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc để xác định tội danh và khung hình phạt đối với bị cáo.
Xét tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm không lớn cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị xét xử về tội chiếm đoạt tài sản; do đó, cần lên một mức án tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra để giáo dục, răn đe bị cáo đồng thời thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật cũng như công tác phòng ngừa tội phạm.
Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; đã tự nguyện nộp 1 phần tiền thu lợi bất chính; là người bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; sau khi phạm tội đã đầu thú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có tài sản và thu nhập nên không phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về dân sự: bị hại đã nhận lại, không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Công H chỉ yêu cầu trả lại số tiền 1.500.000 đồng; bà H đề nghị trừ số tiền bị cáo đã giao nộp tại cơ quan điều tra là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận trả cho anh H 1.500.000 đồng hiện đang được bảo quản tại Kho bạc nhà nước huyện Nghi Lộc.
Về vật chứng: chiếc tivi màn hình phẳng nhãn hiệu Panasonic màu đen 43inch là tài sản bị chiếm đoạt đã trả lại cho bị hại là đúng pháp luật.
Chiếc xe mô tô BKS 37B3-149.06 được sử dụng vào mục đích phạm tội nhưng cả bị cáo và bà H đều thừa nhận chiếc xe là tài sản được hình thành từ nguồn tiền của bà Hoa (do bị cáo lấy tiền mua xe không được sự cho phép của bà Hoa) nên mặc dù đứng tên chủ sở hữu là Trần Xuân Ph song có căn cứ để xác định chủ sở hữu hợp pháp là bà Trần Thị H. Khi bị cáo sử dụng xe vào mục đích bất hợp pháp, bà H không biết nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của bà Hoa và người bào chữa, trả lại cho bà H theo quy định của pháp luật.
Đối với số tiền 1.000.000 đồng bán tivi bị cáo đã tiêu xài hết, do anh H không yêu cầu bị cáo trả lại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vấn đề khác: anh Nguyễn Công H là người đã mua chiếc tivi bị chiếm đoạt nhưng anh H không biết tài sản do phạm tội mà có nên không vi phạm pháp luật.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Trần Xuân Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản".
- Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Trần Xuân Ph 08 (Tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/3/2022 đến ngày 11/6/2022.
- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Trả lại chiếc xe mô tô BKS 37B3-149.06 cho bà Trần Thị H hiện đang được bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghi Lộc theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/8/2022.
Trả lại cho anh Nguyễn Công H 1.500.000 đồng hiện đang được tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước huyện Nghi Lộc theo Biên bản giao nhận tài sản số 11/2022/BBGB-CANL ngày 08/7/2022.
- Về án phí: áp dụng Điều 136, khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Xuân Ph phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bà Trần Thị H và người bào chữa có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo; bị hại; NCQLNVLQ; - VKSND huyện Nghi Lộc; - VKSND tỉnh Nghệ An; - CQĐT Công an huyện Nghi Lộc; - CQTHAHS huyện Nghi Lộc; - CCTHADS huyện Nghi Lộc; - Lưu HS, VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Thị Hồng Thể |