- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 76/2022/HS-ST Ngày: 23- 9 -2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Mai.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hải.
Ông Lê Hùng CK.
- Thư ký phiên toà: Ông Trang Hoàng Mỹ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Dũng– Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 71/2022/HS-ST ngày 05 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:
Phạm Văn K, sinh năm 1979 tại tỉnh Tây Ninh; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: ấp Phước T, xã Long P, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn K và bà Vạn Thị C; vợ tên Nguyễn Thu H; con có 02 người, lớn nhất sinh năm 2002 và nhỏ nhất sinh năm 2004; tiền án: Không có; tiền sự: Không có; bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/7/2022 đến ngày 04/8/2022 thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo có mặt tại phiên toà.
Bị hại: Chị Đặng Thị S, sinh năm 1990.
Nơi cư trú: ấp Phước T, xã Long P, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 24/4/2022, Phạm Văn K cùng với ông Trần Hải A, sinh năm 1979, ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1969, ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1973 cụng ngụ ấp Phước Tây, xã Long Phước, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh đang ngồi uống cà phê tại quán của bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1988 ngụ cùng địa phương. Lúc này, bà Đặng Thị S, sinh năm 1990, nhà gần quán cà phê của bà X đến tìm chồng là ông Trần Hải A. Thấy ông A ngồi uống cà phê cùng với K nên bà S tức giận, có lời nói chửi mắng ông A và K. Sau đó, giữa bà S và K xảy ra mâu thuẫn cự cãi, K bực tức dùng tay phải cầm ly thủy tinh uống cà phê đang để trên bàn, tư thế đứng đối diện đánh 01 cái từ trên xuống trúng vào vùng đỉnh đầu, vùng trán phải, sóng mũi, cánh tay phải của bà S gây thương tích. Bà S được gia đình đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tây Ninh điều trị và xuất viện trong ngày. Ngày 24/4/2022, bà Đặng Thị Giàu có đơn yêu cầu khởi tố vụ án.
Kết luận giám định pháp y về thương tích số:148/2022/TgT ngày 06/6/2022 của Trung tâm Pháp y – Sở Y tế tỉnh Tây Ninh kết luận: 01 vết sẹo vùng trán đỉnh, kích thước 03 x 0,2 cm lành có tóc che; 01 vết sẹo vùng trán phải, kích thước dài 3,5 cm, ngang từ 0,1 đến 0,8 cm lành; 01 vết sẹo trên sóng mũi, kích thước 1,5 x 0,1 cm lành; 01 vết sẹo mặt trước đầu trên cánh tay phải đến ngực phải, kích thước 12 x 0,5 cm lành. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của bà Đặng Thị S do thương tích gây nên hiện tại là 12 % (Mười hai phần trăm).
Kết quả thu giữ vật chứng: Nhiều mảnh vỡ ly thuỷ tinh.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị cáo Phạm Văn K đã bồi thường cho bị hại Đặng Thị S số tiền 100.000.000 đồng, bị hại S đã nhận xong và không yêu cầu bồi thường gì thêm và làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo K.
Tại bản cáo trạng số:72/CT-VKSBC ngày 05 tháng 9 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu đã truy tố Phạm Văn K về tội “Cố ý gây tK tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn K đã khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s, v khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn K từ 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02(hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm.
Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Bị hại bà Đặng Thị S trình bày: Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 24/4/2022, bà đến quán cà phê của bà Nguyễn Thị X gần nhà để tìm chồng là ông Trần Hải A thì thấy chồng bà ngồi uống cà phê với bị cáo K nên bà tức giận, có lời nói chửi mắng ông A và bị cáo K. Sau đó, giữa bà và bị cáo K xảy ra mâu thuẫn cự cãi thì bị cáo K bực tức dùng tay phải cầm ly thủy tinh uống cà phê đang để trên bàn đánh 01 cái từ trên xuống trúng vào vùng đỉnh đầu, vùng trán phải, sóng mũi, cánh tay phải của bà gây thương tích, được gia đình đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tây Ninh điều trị và xuất viện trong ngày, sau đó bà gửi đơn yêu cầu khởi tố vụ án do thương tích 12%. Bị cáo K đã bồi thường tổng chi phí là 100.000.000 đồng và bà đã nhận xong, không yêu cầu bồi thường gì khác, bà có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo K.
Bị cáo Phạm Văn K thống nhất với luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, không bào chữa.
Bị cáo Phạm Văn K nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là trái pháp luật, xin lỗi bị hại và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bến Cầu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Định tội danh và điều luật áp dung: Lúc 06 giờ 00 phút ngày 24/4/2022, tại ấp Phước Tây, xã Long Phước, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh, sau khi gây cãi mâu thuẫn, Phạm Văn K dùng ly thủy tinh là hung khí nguy hiểm đánh bà Đặng Thị S gây thương tích. Tại kết luận giám định pháp y về thương tích số:148/2022/TgT ngày 06/6/2022 của Trung tâm Pháp y – Sở Y tế tỉnh Tây Ninh kết luận: 01 vết sẹo vùng trán đỉnh, kích thước 03 x 0,2 cm lành có tóc che; 01 vết sẹo vùng trán phải, kích thước dài 3,5 cm, ngang từ 0,1 đến 0,8 cm lành; 01 vết sẹo trên sóng mũi, kích thước 1,5 x 0,1 cm lành; 01 vết sẹo mặt trước đầu trên cánh tay phải đến ngực phải, kích thước 12 x 0,5 cm lành. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Đặng Thị S do thương tích gây nên hiện tại là 12 % (mười hai phần trăm). Do đó, hành vi của bị cáo Phạm Văn K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự như luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.
Đánh giá về mức độ hành vi phạm tội: Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, bị cáo là người đã thành niên và có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ do tức giận, có lời nói chửi mắng, cự cãi của bà Đặng Thị S đối với bị cáo K mà bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm đánh vào vùng đỉnh đầu, vùng trán phải, sóng mũi, cánh tay phải của bà Giàu gây thương tích là 12 %. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khoẻ của người khác, xâm phạm đến quyền được tôn trọng và bảo vệ sức khoẻ của người khác. Do đó, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo K không có tình tiết tăng nặng nào được quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo Phạm Văn K được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Bến Cầu tặng giấy khen đã có thành tích xuất sắc trong công tác vận động hiến máu và hiến máu tình nguyện; được Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Long Khánh, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tặng giấy khen đã có thành tích cung cấp thông tin bắt đối tượng truy nã trên địa bàn xã, giấy khen đã có thành tích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong công tác bầu cử trưởng ấp, giấy khen có thành tích tiêu biểu trong phong trào Hội cựu chiến binh xã. Bị hại xin giảm nhẹ mức hình phạt và sự việc xảy ra có một phần lỗi của bị hại nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên đề nghị áp dụng Điều 65, Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo K là có căn cứ chấp nhận. Bởi lẽ, bị cáo K có 03 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, có nhân thân tốt và nơi cư trú rõ ràng. Do vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng cải tạo bị cáo trở thành người tốt như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo K tự nguyện bồi thường cho bị hại S số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng. Ghi nhận bị hại S đã nhận xong và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Nhiều mảnh vỡ ly thuỷ tinh liên quan trực tiếp việc phạm tội nên tịch thu tiêu huỷ.
Về án phí: Bị cáo K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s, v khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng được hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 23/9/2022).
Giao bị cáo Phạm Văn K cho Ủy ban nhân dân xã Long Phước, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 590 của Bộ luật Dân sự.
- Ghi nhận bị cáo Phạm Văn K đã tự nguyện bồi thường cho bị hại Đặng Thị S số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng, bị hại S không yêu cầu bồi thường gì thêm.
3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy Nhiều mảnh vỡ ly thuỷ tinh.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 07 tháng 9 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Bị cáo Phạm Văn K phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Văn K, bị hại Đặng Thị S có quyền kháng cáo theo trình tự thủ tục phúc thẩm lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV TAND tỉnh Tây Ninh (1b); - VKSND huyện Bến Cầu (1b); - Công an huyện Bến Cầu (2b); - Nhà tạm giữ (1b); - Chi cục THADS huyện Bến Cầu (1b); - Phòng lý lịch Sở tư pháp tỉnh (1b); - Phòng PV06 Công an tỉnh Tây Ninh (1b); - Bị cáo (2b); - Người tham gia tố tụng khác (2b); - Lưu hồ sơ vụ án (1b); - Lưu tập án (1b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Hoàng Mai |