vanban.org

Bản án 76/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 08/08/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/08/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q về phần hình phạt, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q về phần trách nhiệm dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q đối với yêu cầu xem xét lại lỗi của người bị hại.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Q - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q về phần hình phạt, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q về phần trách nhiệm dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q đối với yêu cầu xem xét lại lỗi của người bị hại.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2022/HS-PT
Ngày 08-8-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Bà Trần Thị Bé.

Các thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Năm.

Bà Lê Thị Mỹ Giang.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Phong – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Bình – Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 8 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 87/2022/TLPT-HS ngày 13 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Văn Q do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q đối với bản án hình sự sơ thẩm số 08/2022/HS-ST ngày 09/5/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Q, sinh năm 1973 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường Phổ Q, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Nuôi tôm; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đ và bà Đặng Thị N; có vợ là Huỳnh Thị Á và 03 con, lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Q: Ông Trương Q Tín – Luật sư Văn phòng Luật sư Q Tín thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Ông Võ Văn H, sinh năm 1966; trú tại: Tổ dân phố H, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 14/8/2021, Nguyễn Văn Q cùng với vợ mình là Huỳnh Thị A mang xẻng, bao đến khu vực hồ nuôi tôm ở Gò Muống (thuộc TDP Hải Tân, phường P, thị xã Đ) để xúc cát bên phía hồ nuôi tôm của Võ Văn H đắp lên phần bờ đường đi của 02 hồ. Hồ tôm của Q và H giáp ranh nhau, giữa hai bên có mâu thuẫn về lối đi nên chính quyền địa phương đã đến hiện trường để xác định ranh giới của 02 thửa đất và yêu cầu các bên viết cam đoan trong thời gian chờ xử lý và 02 bên đã phân chia bằng cọc căng dây ở giữa hai phần đường đi.

Khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày thì Võ Văn H đến hồ của mình, phát hiện vợ chồng Q xúc cát bên phía hồ tôm của mình nên H nói không cho vợ chồng Q xúc cát nữa. Do đó, giữa hai bên đã xảy ra cãi vã lớn tiếng, sau đó Nguyễn Thị Ngọc T là vợ của Võ Văn H cũng đến cùng cãi nhau, vợ chồng Nguyễn Văn Q cầm theo xẻng đến đứng đối diện với Võ Văn H để cãi nhau. Qúa trình cãi nhau hai bên chỉ thách thức với nhau chứ chưa gây thương tích cho nhau.

Cãi nhau được một lúc thì Q bỏ đi về chòi tôm của mình gần đó theo hướng Tây – Nam, đi được một đoạn thì gặp Võ T (con trai ông H) đi xe mô tô đến, giữa ông Q và T cãi nhau qua lại, sau đó giằng co nhau, Q nắm cổ áo vật T ngã xuống tại bờ hồ tôm của ông Q và đè T tại khu vực mép bờ hồ, thấy Q nằm đè lên người con trai mình nên Võ Văn H chạy đến dùng tay đánh vào vùng trán bên phải của Q làm Q ngã ra và buông T, liền lúc đó Huỳnh Thị A cầm xẻng chạy đến thì Võ Văn H hết ngã, giật xẻng ném đi, H và Q tiếp tục xô xát, ôm vật nhau, thấy Q thì H vật ngã, Huỳnh Thị A chạy vào chòi cầm 01 cây rựa chạy ra la lớn, đè dọa nhằm mục đích để cha con H không xô xát với chồng mình nữa, lúc đó cha con H lùi lại khoảng 5 -6 m để đi về hồ tôm của nhà mình, thấy vậy Q liền đứng dậy giật lấy rựa trên tay của A và ném rựa về phía Võ Văn H, thấy Q cầm rựa ném thì H nhặt khúc cây gỗ ở gần đó chống lên phía trước mặt để đỡ, tuy nhiên rựa vẫn bay trúng vào khuỷu tay phải và trúng vào đầu gối phải của H, Q quay người bỏ chạy vào hướng chòi tôm của mình thì H cầm khúc cây ném theo nhưng không trúng. Thấy Võ Văn H ngồi dưới đất ôm chân bị thương thì Huỳnh Thị A đi đến gần tiếp tục chửi lớn tiếng nên H bực tức dùng tay tát 01 cái vào mặt A, lúc Q đứng trong chòi cầm cây gỗ chạy ra ném về phía Võ Văn H nhưng không trúng. Sau đó, được mọi người đến can ngăn và báo cơ quan chức năng đến làm việc.

Hậu quả: Võ Văn H bị vỡ xương bánh chè, đứt gân gối phải và rách da khuỷu tay phải, được đưa đến Bệnh viện Đa Khoa khu vực Đặng Thùy Trâm cấp cứu và nhập viện điều trị từ ngày 14/8/2021 đến ngày 20/8/2021 thì xuất viện, ngày 22/8/2021 Võ Văn H có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Kết luận giám định pháp y về thương tích số 243/TgT ngày 17/9/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Quảng Ngãi, kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của Võ Văn H như sau:

- Đứt gân bA chè đã khâu: 10%; vỡ xương bánh chè phải: 2,70%; sẹo gối phải: 1,74%; sẹo khuỷu tay phải: 0,85%. Tổng cộng: 15,29%. Làm tròn số là 15%.

- Các tổn thương vùng gối phù hợp với vật sắc nhọn gây thương tích.

- Tổn thương ở khuỷu tay phải phù hợp với vật tày gây thương tích.

- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 15%.

Quá trình xác minh, Nguyễn Văn Q cho rằng mình cũng bị Võ Văn H đánh ở vùng trán nên ngày 16/9/2021, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đức Phổ đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định, nhưng Q từ chối giám định, từ chối việc dẫn giải. Sau đó đến ngày 12/12/2021 Nguyễn Văn Q lại yêu cầu giám định tỷ lệ thương tật vì cho rằng mình bị Võ Văn H đánh vào vùng trán và Võ T đá vào bộ phận sinh dục (tinh hoàn). Qua xác minh tại cơ sở y tế nơi Q khám bệnh và tài liệu thì Q không bị tổn thương gì ở bộ phận sinh dục. Sau đó tiến hành trưng cầu giám định tỷ lệ thương tật của Nguyễn Văn Q như yêu cầu, kết quả Kết luận giám định pháp y về thương tích số 312/TgT ngày 22/12/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Quảng Ngãi, kết luận:

- Chấn thương không để lại dấu vết.

- Các dấu vết tổn thương ghi trong biên bản xem xét dấu vết trên thân thể, phù hợp vật tày tác động.

- Chẩn đoán viêm bàng Q, tinh hoàn phải lớn hơn tinh hoàn trái ghi trong phiếu siêu âm không phải do chấn thương gây ra.

- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 0,00%.

Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2022/HS-ST ngày 09/5/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”;

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù được tình từ ngày đi chấp hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; các điều 584, Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015. Buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Võ Văn H 60.022.160 đồng (Sáu mươi triệu, không trăm hai mươi hai ngàn, một trăm sáu mươi đồng). Bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho người bị hại số tiền 50.022.160 đồng (Năm mươi triệu, không trăm hai mươi hai ngàn, một trăm sáu mươi đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 bộ luật Dân sự.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 23/5/2022, bị cáo Nguyễn Văn Q kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin H án treo; về dân sự yêu cầu xem xét các khoản bồi thường hợp lý và xem xét lỗi của ông Võ Văn H cho rõ ràng pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Văn Q vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án:

Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q, thì thấy:

- Về tội danh: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ Luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Q là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác. Tòa án cấp sơ thẩm đã đA giá đúng tình chất mức độ hành vi phạm tội và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 24 tháng tù là cần thiết, không nặng. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo về phần hình phạt, giữ nguyên mức hình phạt mà bản án hình sự sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Tại Biên bản làm việc lúc 9 giờ 00 phút ngày 26/11/2021, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh mức thu nhập trung bình của người dân TDP Hải Tân, phường Phổ Q là từ 120.000 đồng – 150.000 đồng/người/ngày (BL 291). Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử, sửa án sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự xem xét tính lại đối với số tiền thu nhập thực tế bị mất của người bị hại và người chăm sóc của người bị hại cho phù hợp với mức thu nhập tại địa phương. Đối với chi phí cho việc cứu chữa, đi lại, bồi dưỡng sức khỏe, tiền bù đắp tổn thất tinh thần là phù hợp nên đề nghị giữ nguyên.

- Đối với yêu cầu xem xét mức độ lỗi của người bị hại ông Võ Văn H: Bản án sơ thẩm đã nhận định việc người bị hại Võ Văn H dùng tay đA vào trán của bị cáo trong khi ông H có nhiều biện pháp để ngăn cản sự xô xát giữa bị cáo với anh Võ T nên trong vụ án này người bị hại cũng có một phần lỗi và đã áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự cho bị cáo là phù hợp nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

* Luận cứ bào chữa của Luật sư cho bị cáo Nguyễn Văn Q:

- Về tội danh: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ Luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi gây thương tích cho ông H, tự nguyện nộp tiền tại Chi Cục thi hành án thị xã Đức Phổ để bồi thường cho ông H, bị cáo có cha mẹ là người có công với cách mạng, bị cáo Q phạm tội cũng do bị người bị hại đánh trước, bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách pháp luật của nhà nước và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân nơi cư trú; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự nhưng cấp sơ thẩm xét xử bị cáo 24 tháng tù là nặng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng thêm Điều 54, Điều 65 Bộ Luật hình sự cho bị cáo được giảm nhẹ một phần hình phạt và cho hưởng án treo để bị cáo có điều kiện ở ngoài cùng gia đình làm ăn để bồi thường cho ông H.

- Về trách nhiệm dân sự: Yêu cầu Tòa án xem xét các khoản bồi thường như tiền thuốc điều trị, cước xe taxi, tiền viện phí cho phù hợp với các hóa đơn, chứng từ người bị hại nộp để bị cáo Q có điều kiện bồi thường.

- Xem xét lại lỗi của ông Võ Văn H trong vụ án này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Q: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Văn Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở xác định vào sáng ngày 14/8/2021, Nguyễn Văn Q và vợ là Huỳnh Thị A đến xúc cát phía hồ tôm của Võ Văn H đắp lên phần đường đi của hai hồ tôm; khoảng 8 giờ 30 phút, Võ Văn H đến hồ tôm của mình thì phát hiện vợ chồng Q đang xúc cát bên phía hồ tôm của mình nên không cho xúc nữa thì giữa hai bên cãi nhau. Sau khi cãi nhau được một lúc thì Nguyễn Văn Q đi về chòi tôm của nhà mình thì gặp Võ T (con trai của ông Võ Văn H) đi xe mô tô đến, thì Q và T cãi vã và đánh nhau; thấy T bị Q ngồi lên người nên Võ Văn H chạy đến dùng tay đA vào vùng trán bên phải của Q làm Q ngã và buông T ra. Thấy Q bị đA thì vợ Q là Huỳnh Thị A cầm xẻng chạy đến thì bị Võ Văn H hất ngã, giật xẻng ném đi; sau đó, H và Q tiếp tục xô xát, ôm vật nhau; thấy Q bị H vật ngã Huỳnh Thị A chạy vào chòi cầm 01 cái rựa chạy ra la lớn, đe dọa nhằm mục đích không cho Võ Văn H đánh nhau với chồng mình nữa, lúc này cha con H lùi lại khoảng 5-6m; thấy vậy, Q liền đứng dậy giật lấy rựa (là hung khí nguy hiểm) trên tay A ném về phía của Võ Văn H, thấy Q cầm rựa ném thì Võ Văn H nhặt một khúc cây gỗ ở gần đó chống lên phía trước mặt để đỡ nhưng rựa vẫn bay trúng vào khuỷu tay phải và trúng vào đầu gối phải của H, gây tổn thương cơ thể cho Võ Văn H là 15 % (Đứt gân bánh chè đã khâu: 10%, vỡ xương bánh chè phải: 2,70%, sẹo gối phải: 1,74%, sẹo khuỷu tay phải: 0,85%). Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt Nguyễn Văn Q về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ Luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được H án treo của bị cáo Nguyễn Văn Q, thì thấy: Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Tuy nhiên, tại giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trước khi xét xử phúc thẩm bị cáo đã nộp thêm số tiền 20.000.000 đồng tại Chi Cục thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ để bồi thường thiệt hại cho người bị hại; cha mẹ bị cáo là người có công với cách mạng; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng; người bị hại cũng có một phần lỗi trong vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, giảm cho bị cáo một phần hình phạt cũng đủ tác dụng răn đe bị cáo và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.

Xét kháng cáo về trách nhiệm dân sự: Các khoản chi phí cho việc cứu chữa của bị hại ông Võ Văn H được cấp sơ thẩm chấp nhận với số tiền 75.027.000 đồng (Gồm: Chi phí điều trị: 5.677.000 đồng; Chi phí thuê phương tiện đưa người bị hại đi điều trị tại Bệnh viện Đặng Thùy Trâm và Bệnh viện chỉnh hình và phục hồi chức năng Đà Nẵng: 3.000.000 đồng; Chi phí bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe: 7.000.000 đồng; Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị hại: 6.000.000 đồng (200.000 đồng/ngày x 30 ngày); Thu nhập thực tế bị mất của người bị hại trong thời gian điều trị tại Bệnh viện và tại nhà: 30.000.000 đồng (200.000 đồng/ngày x 5 tháng); Tiền bù đắp tổn thất tinh thần: 22.350.000 đồng (15 tháng lương x 1.490.000 đồng). Xét thấy, đây là những khoản chi phí hợp lý cho việc điều trị, bồi dưỡng sức khỏe, chức năng bị mất của ông Võ Văn H theo quy định tại Điều 590 Bộ Luật dân sự và phù hợp với các hóa đơn chứng từ do ông Võ Văn H nộp.

Trong vụ án này có một phần lỗi của người bị hại nên cấp sơ thẩm chỉ buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị hại 80% với số tiền là 60.022.000 đồng (75.027.000 đồng x 80%), còn lại 20% bị hại phải chịu về phần lỗi của mình. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên phần về trách nhiệm dân sự cấp sơ thẩm đã tuyên.

Bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ 30.000.000 đồng (Trong thời gian xét xử sơ thẩm bị cáo nộp 10.000.000 đồng và trước khi xét xử phúc thẩm bị cáo nộp 20.000.000 đồng tại Cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ). Bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho người bị hại số tiền 30.022.000 đồng (Ba mươi triệu không trăm hai mươi hai nghìn đồng).

Tiếp tục tạm giữ số tiền 10.000.000 đồng theo biên lai số 0000978 ngày 22/4/2022 và số tiền 20.000.000 đồng theo biên lai số 0002224 ngày 01/8/2022 bị cáo Nguyễn Văn Q đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ để đảm bảo cho việc thi hành án.

Đối với kháng cáo xem xét lỗi của ông Võ Văn H trong vụ án, thì thấy rằng: Do thấy con trai là Võ T bị Nguyễn Văn Q ngồi lên người nên Võ Văn H chạy đến dùng tay đA vào vùng trán bên phải của Q làm Q ngã và buông T ra. Thấy Q bị đA thì vợ Q là Huỳnh Thị A cầm xẻng chạy đến thì bị Võ Văn H hất ngã, giật xẻng ném đi; sau đó, H và Q tiếp tục xô xát, ôm vật nhau; thấy Q bị H vật ngã Huỳnh Thị A chạy vào chòi cầm 01 cái rựa chạy ra la lớn, đe dọa nhằm mục đích không cho Võ Văn H đA nhau với chồng mình nữa, lúc này cha con H lùi lại khoảng 5-6m; thấy vậy, Q liền đứng dậy giật lấy rựa (là hung khí nguy hiểm) trên tay A ném về phía của Võ Văn H và gây thương tích cho Võ Văn H. Vì vậy thấy rằng, nguyên nhân bị cáo gây thương tích cho người bị hại cũng xuất phát từ việc do bực tức bị Võ Văn H dùng tay đánh vào trán và thấy vợ bị Võ Văn H hất ngã nên Nguyễn Văn Q giật rựa của vợ ném Võ Văn H gây thương tích. Tuy nhiên, theo kết quả Kết luận giám định pháp y về thương tích số 312/TgT ngày 22/12/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Quảng Ngãi, kết luận: tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn Q là 0,00% nên không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự và xem xét trách nhiệm dân sự đối với người bị hại Võ Văn H. Do đó, cấp sơ thẩm xác định người bị hại Võ Văn H cũng có một phần lỗi trong vụ án này và đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 cho bị cáo và xem xét lỗi của bị hại để tính bồi thường về trách nhiệm dân sự cho bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cấp sơ thẩm đã xác định lỗi của người bị hại Võ Văn H là phù hợp nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát và Luận cứ bào chữa của Luật sư được Hội đồng xét xử chấp nhận một phần.

Về án phí:

- Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Văn Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

- Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.

- Án phí dân sự sơ thẩm: Do tại Cấp phúc thẩm bị cáo nộp thêm số tiền 20.000.000 đồng để bồi thường cho người bị hại nên án phí dân sự sơ thẩm được tính lại, bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.501.100 đồng (30.022.000 đồng x 5%).

Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q về phần hình phạt, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q về phần trách nhiệm dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q đối với yêu cầu xem xét lại lỗi của người bị hại. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 08/2022/HS-ST ngày 09/5/2022 của Toà án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi về phần hình phạt.

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng các Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; các điều 584, Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015. Buộc bị cáo Nguyễn Văn Q phải bồi thường cho ông Võ Văn H số tiền 60.022.000 đồng (Sáu mươi triệu không trăm hai mươi hai nghìn đồng). Bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng). Bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho người bị hại số tiền 30.022.000 đồng (Ba mươi triệu không trăm hai mươi hai nghìn đồng).

Tiếp tục tạm giữ số tiền 10.000.000 đồng theo biên lai số 0000978 ngày 22/4/2022 và số tiền 20.000.000 đồng theo biên lai số 0002224 ngày 01/8/2022 bị cáo Nguyễn Văn Q đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ để đảm bảo cho việc thi hành án.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 bộ luật Dân sự.

2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm và 1.501.100 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ