- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Hiểu - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn H; Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 76/2022/HS-PT Ngày: 22-4-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Hiền
Các Thẩm phán: Ông Võ Văn Lịnh
Ông Trần Bình Đảo
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tiên – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Khanh – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2022/TLPT-HS ngày 27 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo Trần Văn H, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 40/2021/HS-ST ngày 24/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
- Bị cáo có kháng cáo:
Trần Văn H, sinh năm 1974 tại Kiên Giang; Nơi tạm trú: ấp HV A, xã TY A, huyện UMT, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở: Ấp HT, xã NTS, huyện HĐ, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: làm thuê; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; trình độ văn hóa: Không biết chữ; con ông Trần Văn Lợi và bà Nguyễn Thị H; chị em ruột có 2 người, lớn sinh năm 1972, nhỏ sinh năm 1982; vợ Nguyễn Thị Th (chung sống như vợ chồng);tiền sự: không; tiền án:
- Ngày 29/01/1997 bị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xử phạt 36 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản và trốn khỏi nơi giam (đã được xóa án tích).
- Ngày 21/12/2001 bị Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xử phạt 36 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản (đã được xóa án tích).
- Ngày 08/3/2005 bị Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xử phạt 05 năm tù giam về tội trộm cắp tài sản (đã được xóa án tích).
- Ngày 17/11/2009 bị Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xử phạt 07 năm tù giam về tội trộm cắp tài sản (chưa được xóa án tích).
- Ngày 24/3/2017 bị Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang xử phạt 03 năm tù giam về tội trộm cắp tài sản (chưa được xóa án tích).
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18-4-2021 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn H là đối tượng có nhiều tiền án về tội trộm cắp tài sản. Vào tháng 12 năm 2019, chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương, H không có nghề nghiệp ổn định. Đến khoảng 0 giờ 30 phút ngày 18/4/2021, H lấy xe mô tô biển kiểm soát số 68D1 – 274.67 của vợ tên là Nguyễn Thị Th đi tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Trước khi đi, H nói với Th lấy xe mô tô đi đến khu vực hội chợ ở huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang để tìm việc làm.
Sau đó, H điều khiển xe mô tô đi đến cống ngăn mặn thuộc ấp Tân Điền, xã Mỹ Lâm, huyện Hòn Đất. H dừng xe quan sát thấy có 03 chiếc ghe đậu sát nhau, trong đó có chiếc ghe đậu sát mép cống của gia đình chị Phan Thị T. Lúc này trên ghe có chị T, chồng chị T là anh Nguyễn Chí V và 02 người con đang nằm ngủ trong cabin, cửa cabin đã mở. H quan sát thấy có 01 chiếc Túi xách trong cabin nên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc Túi xách này nên đã đi bộ đến mép cống ngăn mặn và trèo lên ghe của gia đình chị T. Quan sát mọi người trong ghe đang ngủ, H luồn tay qua cửa cabin lấy trộm Túi xách sau đó đi lên mép cống. Lúc này, H phát hiện có anh Nguyễn Minh Quân đang ngủ trong mùng dưới gầm cống, bên trong mùng có 01 chiếc đèn pin. H dùng lưỡi lam mang theo sẵn trong người rạch chiếc mùng sau đó thò tay vào mùng định lấy trộm chiếc đèn pin thì bị anh Quân phát hiện. H liền bỏ chạy sau đó điều khiển xe mô tô tẩu thoát. H đã mở Túi xách ra kiểm tra, bên trong có nhiều quần áo của phụ nữ, trong đó có áo khoác loại áo thun của nữ có hai túi. H lục túi áo bên trái phát hiện có 12.400.000 đồng thì cất giấu số tiền này vào Ti quần của mình. H tiếp tục lục Ti áo bên phải phát hiện có 01 Túi đựng vàng màu đỏ bên trong có: 01 sợi dây chuyền vàng 18K (loại dây chuyền nam) trọng lượng 3,485 chỉ; 01 sợi dây chuyền vàng 18K (loại của em bé gái) trọng lượng 8,86 phân; 01 chiếc nhẫn vàng 18K (loại nhẫn nam) trọng lượng 2,5 chỉ; 01 chiếc nhẫn vàng 18K (loại nhẫn bé gái) trọng lượng 02 phân; 01 chiếc nhẫn vàng 18K (loại nhẫn bé trai) trọng lượng 2,84 phân; 01 chiếc lắc tay vàng nữ 18K trọng lượng 4,524 chỉ và 01 đôi bông tai vàng 18K trọng lượng 04 phân. H cất giấu 01 sợi dây chuyền loại bé gái và 01 chiếc nhẫn vàng loại em bé gái vào Túi áo khoác ngoài của H, số vàng còn lại H cất giấu vào Ti áo khoác bên trong. Sau đó, H ném Ti xách xuống mé kênh và điều khiển xe mô tô về hướng thành phố Rạch Giá. H đã đi vào đường tuyến tránh thành phố Rạch Giá đến địa phận huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. Lúc này, khoảng 04 giờ ngày 18/4/2021, H ghé lại 01 quán võng (không xác định được địa chỉ cụ thể). Thấy quán đóng cửa nên H nằm ngủ bên ngoài quán đến khoảng 07 giờ cùng ngày thì thức dậy. H lấy tài sản ra xem thì phát hiện 01 sợi dây chuyền loại em bé gái và 01 chiếc nhẫn vàng loại bé gái cất giấu Ti áo khoác ngoài đã mất. Sau đó, H điều khiển xe mô tô về hướng huyện Hòn Đất. H đã ghé vào tiệm vàng Trần Các thuộc khu Trung tâm thương mại thị trấn Sóc Sơn đổi 01 chiếc nhẫn vàng 18K (loại nhẫn bé trai) trọng lượng 2,84 phân; 01 chiếc lắc tay vàng nữ 18K trọng lượng 4,524 chỉ và 01 đôi bông tai vàng 18K trọng lượng 04 phân lấy 01 chiếc lắc tay vàng 18K trọng lượng 3,35 chỉ và 1.000.000 đồng. Dọc đường đi, H đã tiêu xài cá nhân 400.000 đồng. Sau đó, H về nhà đưa cho Thúy 01 sợi dây chuyền vàng 18K (loại dây chuyền nam) trọng lượng 3,485 chỉ; 01 chiếc lắc tay 18K trọng lượng 3,35 chỉ vừa đổi được và 11.000.000 đồng, H nói với Th là tiền và vàng mà H dành dụm có được, còn lại 01 chiếc nhẫn vàng 18K (loại nhẫn nam) trọng lượng 2,5 chỉ và 2.000.000 đồng H cất giấu trong người. H đã đi đến xã MT, huyện HĐ tham gia đánh bạc và thua hết số tiền 2.000.000 đồng. H về nhà kêu Th đưa 1.000.000 đồng. H tiếp tục đến xã MT đánh bạc và thua hết số tiền 1.000.000 đồng. H đã bán chiếc nhẫn vàng 18K (loại nhẫn nam) trọng lượng 2,5 chỉ cho 01 người cùng chơi đánh bạc (không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể) được số tiền 5.180.000 đồng. H tiếp tục dùng số tiền này để đánh bạc và thua hết. Sau đó, H điều khiển xe mô tô về nhà thì bị lực lượng Công an bắt giữ chờ xử lý cho đến nay.
Tại bản kết luận định giá tài sản trong tố tung ngày 31/5/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong đã kết luận giá trị:
- 01 (một) dây chuyền vàng 18K (loại dây chuyền nam), hình 02 mắt xích nối với nhau bằng một khoen hình đốt tre, trọng lượng 3,485 chỉ là 11.622.470 đồng.
- 01 (một) dây chuyền vàng 18K (loại của em bé gái), hình 01 mắt xích nối với nhau bằng một khoen hình đốt tre, trọng lượng 8,86 phân là 2.954.810 đồng.
- 01 (một) nhẫn vàng 18K (loại nhẫn nam), trên mặt hình vuông có khắc chữ nước ngoài, không rõ chữ gì, trọng lượng 2,5 chỉ là 8.350.000 đồng.
- 01 (một) nhẫn càng 18K (loại nhẫn bé gái), trên mặt có đính 02 hột bằng đá màu hồng, trọng lượng 02 phân là 668.000 đồng.
- 01 (một) nhẫn vàng 18K (loại nhẫn bé trai), mặt hình thoi có đính hột đá màu tím, trọng lượng 2,84 phân là 948.560 đồng.
- 01 (một) lắc tay vàng 18K, mặt hình thoi có đính đá màu trắng, trọng lượng 4,524 chỉ là 15.110.160 đồng.
- 01 (một) đôi bông tai vàng 18K dạng hình sợi, mỗi chiếc có 05 sợi, trọng lượng 04 phân là 1.334.000 đồng.
Về vật chứng của vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hòn Đất đã thu giữ:
1. Một chiếc xe mô tô biển kiểm soát số 68D1 – 274.67, nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX màu đen xám, số khung 311EY145663, số máy JA31EO271298.
2. Một cái Ti xách của nữ, không nhãn mác, màu đen, mặt trước sọc trắng ngà dạng lưới, kích thước 38 x 25 cm, có quai màu đen.
3. Một cái áo khoác nữ màu xanh nhạt, tay dài, có xăng tia kéo hiệu Lime Orange, có nón trùm đầu liền áo; áo có 02 Ti bên hông, trên Ti có xăng tia kéo.
4. Một dây chuyền vàng 18K (loại dây chuyền nam), hình 02 mắt xích nối với nhau bằng 01 khoen hình đốt tre, trọng lượng 3,485 chỉ; có ký hiệu NHEN 61%.
5. Một lắc tay vàng nữ 18K, mặt hình thoi có đính đá màu trắng, trọng
lượng 3,35 chỉ, có ký hiệu TKH 61%.
6. 11.400.000 đồng tiền Việt Nam.
Vật chứng ở mục số 1 đã được trả lại cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Th; Vật chứng ở mục 2, 3, 4, 5 đã được trả lại cho người bị hại là chị Phan Thị T; Vật chứng ở mục số 6 đã được xử lý: trả lại cho người bị hại là chị Phan Thị T số tiền 10.000.000 đồng, trả lại cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Th số tiền 1.400.000 đồng theo Quyết định xử lý vật chứng số 03/QĐ-CSĐT ngày 22/5/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Hòn Đất.
Tại Bản án sơ thẩm số: 40/2021/HSST ngày 24/12/2021 Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ điểm c, g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sử a đổi bổ sung năm 2017.
Xử Phạt: Bị cáo Trần Văn H 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/4/2021.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và báo quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 28/12/2021, bị cáo Trần Văn H có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt với lý do: Mức án nặng.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về tội danh của bị cáo là phù hợp. Về hình phạt, mức án 06 năm tù là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm đã tuyên. Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo:
Xét đơn kháng cáo của bị cáo về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Dođó, Hộiđồngxétxử chấpnhậnxem xétgiảiquyếtđơnkhángcáotheotrìnhtự phúcthẩm.
Về quyết định của bản án sơ thẩm:
Do muốn có tiền tiêu xài nên vào lúc 0 giờ 30 phút ngày 18/4/2021, Trần Văn H đã có hành vi lén lút đột nhập vào ghe của chị Phan Thị T trộm cắp tài sản bao gồm 12.400,000 đồng; 01 sợi dây chuyền vàng 18K (loại dây chuyền nam) trọng lượng 3,485 chỉ; 01 sợi dây chuyền vàng 18K (loại của em bé gái) trọng lượng 8,86 phân; 01 chiếc nhẫn vàng 18K (loại nhẫn nam) trọng lượng 2,5 chỉ; 01 chiếc nhẫn vàng 18K (loại nhẫn bé gái) trọng lượng 02 phân; 01 chiếc nhẫn vàng 18K (loại nhẫn bé trai) trọng lượng 2,84 phân; 01 chiếc lắc tay vàng nữ 18K trọng lượng 4,524 chỉ và 01 đôi bỗng tai vàng 18K trọng lượng 04 phân. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 53.388.000 đồng. Do vậy Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất đã xử phạt bị cáo Trần Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Về yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ của bị cáo:
Sau khi xét xử sơ thẩm xong bị cáo Trần Văn H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bà Phan Thị T gây mất an ninh trật tự tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo lười lao động, muốn hưởng lợi từ thành quả lao động của người khác. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử bị cáo 06 năm tù là phù hợp. Bản thân bị cáo có 5 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, đã có thời gian rất dài để cải tạo giáo dục nhưng bị cáo vẫn tiếp tục lao vào con đường phạm tội thể hiện ý thức xem thường pháp luật của bị cáo. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới nên HĐXX không có cơ sở chấp nhận.
Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Quan điểm đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo là phù hợp.
Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ Luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn H; Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
2. Áp dụng: điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn H 06 (Sáu) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 18/4/2021.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Văn H phải nộp án phí hình sự phúc thẩm 200.000đ.
4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm số 40/2021/HSST ngày 24/12/2021 Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Vụ giám đốc Kiểm tra (1); - TAND Cấp cao tại TP.HCM (1); - VKSND Cấp cao tại TP.HCM (1); - VKSND tỉnh Kiên Giang (1); - Sở tư pháp tỉnh Kiên Giang (1); - Phòng HSNV CA tỉnh KG (1); - Tổ HCTP (1); - TAND huyện Hòn Đất (1); - THA huyện Hòn Đất (1); - VKSND huyện Hòn Đất (1); - CQCSĐT huyện Hòn Đất (1); - Bị cáo kháng cáo (1); - Lưu hồ sơ (1); - Lưu Tòa hình sự (5). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Diệu Hiền |