vanban.org

Bản án 76/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị C được ly hôn ông Nguyễn Văn T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án dân sự thụ lý số 109/2022/TLST-HNGĐ, ngày 19 tháng 7 năm 2022, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2022/QĐXXST-…"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAM RANH
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 27/9/2022
Về việc: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH

TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Ngọc Hương

2. Ông Phan Văn Hoạt

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thủy là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 109/2022/TLST-HNGĐ, ngày 19 tháng 7 năm 2022, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Phan Thị C, sinh năm: 1998

Địa chỉ: Tổ dân phố HT, phường CPN, thành phố CR, tỉnh Khánh Hòa (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1998

Địa chỉ: Tổ dân phố HT, phường CPN, thành phố CR, tỉnh Khánh Hòa (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Tôi và ông Nguyễn Văn T tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Cam Phúc Nam và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 26 ngày 03/7/2018. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, về sau vợ chồng chúng tôi thường xuyên bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn xảy ra trên nhiều mặt. Nguyên nhân là do chúng tôi không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên kình cãi, ông T không lo tu chí làm ăn, đánh đập vợ con và cho đến nay chúng tôi không điều hòa được. Nay tôi nhận thấy cuộc hôn nhân không còn hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn. Vì vậy, tôi làm đơn này yêu cầu được ly hôn ông Nguyễn Văn T

Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung là cháu Nguyễn Phan Thiện N, sinh ngày: 09/12/2017. Tôi yêu cầu trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục con chung là cháu Nguyễn Phan Thiện N, sinh ngày: 09/12/2017 và không yêu cầu ông Nguyễn Văn T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chúng tôi tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về án phí: Tôi tự nguyện chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

* Tại bản tự khai ngày 01/08/2022, bị đơn ông Nguyễn Văn Thành trình bày:

Ông Nguyễn Văn T và bà Phan Thị C tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường Cam Phúc Nam cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 26 ngày 03/7/2018. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng về sau thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên kình cãi, mâu thuẫn không thể điều hòa được. Bà Phan Thị C yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Văn T đồng ý.

Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung là cháu Nguyễn Phan Thiện N, sinh ngày: 09/12/2017. Ông Nguyễn Văn T đồng ý giao con chung cho bà Chi trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục. Ông Nguyễn Văn T không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chúng tôi tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Ông Nguyễn Văn T yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải và xin vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc cũng như các phiên họp, phiên tòa xét xử.

Phát biểu tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh kết luận:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Nguyên đơn được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự để tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.

Nguyên đơn có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh giải quyết ly hôn đối với bị đơn. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Bà Phan Thị C và ông Nguyễn Văn T tự nguyện đi đến kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Cam Phúc Nam, thành phố Cam Ranh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 26 ngày 03/7/2018. Do đó, hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn là hôn nhân hợp pháp.

Qua lời khai của nguyên đơn và bị đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hôn nhân giữa bà Phan Thị C và ông Nguyễn Văn T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Trong quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Văn T và bà Phan Thị C đều yêu cầu không tiến hành hòa giải, thể hiện sự bỏ mặc, không có thiện chí hàn gắn của các đương sự. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, có căn cứ và phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

Về con chung:

Bà Phan Thị C và ông Nguyễn Văn T có 01 con chung là cháu: Nguyễn Phan Thiện N, sinh ngày: 09/12/2017. Bà Chi yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Nguyễn Phan Thiện N, sinh ngày: 09/12/2017. Nhận thấy, cháu Nguyễn Phan Thiện N còn nhỏ, cần được sự yêu thương, chăm sóc của người mẹ. Ông Nguyễn Văn T cũng đồng ý giao con chung cho mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì vậy, yêu cầu của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản chung: Bà Phan Thị C và ông Nguyễn Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà Phan Thị C chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ:

- Điều 28, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị C được ly hôn ông Nguyễn Văn T.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Phan Thiện N, sinh ngày: 09/12/2017 cho bà Phan Thị C được trực tiếp trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phan Thị C về việc không yêu cầu ông Nguyễn Văn T cấp dưỡng nuôi con.

Ông Nguyễn Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

4. Về án phí: Bà Phan Thị C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về “Ly hôn” nhưng được trừ vào số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2021/0007183 ngày 15/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh. Bà Phan Thị C còn phải nộp 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ