vanban.org

Bản án 76/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Về con chung: giao cháu Phạm Phúc Thịnh – sinh ngày 28/6/2016 cho chị T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung, đồng thời có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm con để gâ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Minh T và Phạm Quang T "Xin ly hôn""
  • Tòa quyết gì? * Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUY AN
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 19/10/2022
V/v Xin ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY AN, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Xuân Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Trưng và ông Trần Sáu.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thanh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 10 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 143/2022/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 8 năm 2022 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 16 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Lê Thị Minh T - sinh năm 1991; Hộ khẩu thường trú: thôn H, xã Đ, huyện A, tỉnh Phú Yên. Chỗ ở hiện nay: khu phố H, phường T, thị xã H, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

* Bị đơn: Anh Phạm Quang T - sinh năm 1984; Hộ khẩu thường trú: thôn H, xã Đ, huyện A, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các tài liệu có tại hồ sơ và tại phiên tòa nguyên đơn chị Lê Thị Minh T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh Phú Yên chứng nhận ngày 27/01/2015. Thời gian hôn nhân hạnh phúc nhưng từ năm 2016, anh chị xảy ra mâu thuẫn do anh T cờ bạc gây nợ nhiều lần. Chị và gia đình chồng có khuyên nhủ nhưng anh T không thay đổi. Từ cuối năm 2019 chị và anh T không còn sống chung với nhau, chị về nhà cha mẹ đẻ ở thị xã H sinh sống. Từ tháng 10/2020 anh T bỏ đi khỏi nơi cư trú, Tòa án nhân dân huyện Tuy An đã có Quyết định tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú nhưng đến nay anh T vẫn không có mặt tại địa phương. Bản thân thấy không hàn gắn hạnh phúc với anh T được nữa, hôn nhân không đạt được. Yêu cầu Tòa án cho chị được ly hôn với anh T.

- Về con chung: Trong thời gian hôn nhân chị và anh T có 01 con chung tên Phạm Phúc T – sinh ngày 28/6/2016, con chung hiện đang sống cùng chị. Chị có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo tài liệu có tại hồ sơ vụ án, Tòa án nhân dân huyện Tuy An đã tiến hành hòa giải, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn là anh Phạm Quang T nhưng anh T không đến Toà án, không thực hiện nghĩa vụ của đương sự và vắng mặt. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

Tại phiên tòa, chị T giữ nguyên yêu cầu. Anh T vắng mặt không có lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy An phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi xét xử Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký và những người tham gia tố tụng cơ bản tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau: Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Minh T. Về hôn nhân: chị T được ly hôn với anh T. Về con chung: Giao cháu Phạm Phúc T – sinh ngày 28/6/2016 cho chị T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh T không cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: Không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về Quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Lê Thị Minh T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Phạm Quang T. Bị đơn có hộ khẩu tại huyện A, tỉnh Phú Yên. Tòa án nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên thụ lý vụ án tranh chấp ly hôn và giải quyết vụ án đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28 và Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Phạm Quang T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt nên căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn tại phiên tòa.

Về nội dung: Nguyên đơn khởi kiện xin ly hôn bị đơn. Các đương sự có đăng ký kết hôn. Đây là hôn nhân hợp pháp. Giữa chị T và anh T xảy ra mâu thuẫn, chị T có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Về quan hệ hôn nhân: chị T và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh Phú Yên chứng nhận ngày 27/01/2015. Đây là hôn nhân hợp pháp, chị T đề nghị Tòa án cho ly hôn vì trong quá trình sống chung, giữa anh chị xảy ra nhiều mâu thuẫn, do anh T cờ bạc gây nợ. Anh T bỏ đi khỏi nơi cư trú, Tòa án nhân dân huyện Tuy An đã ra quyết định tìm kiếm nhưng đến nay anh T vẫn không có mặt tại địa phương. Hội đồng xét xử thấy giữa chị T và anh T không tìm được tiếng nói chung, quan hệ hôn nhân giữa anh chị đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T.

Về con chung: chị T và anh T có 01 con chung tên Phạm Phúc T – sinh ngày 28/6/2016, cháu T đang sống cùng chị T, tình cảm mẹ con gắn bó nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, giao cháu T cho chị T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung, đồng thời có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm con để gây cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Khi cần thiết, các đương sự có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: chị Lê Thị Minh T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 35, khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

* Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chị Lê Thị Minh T được ly hôn với anh Phạm Quang T.

* Về con chung: giao cháu Phạm Phúc Thịnh – sinh ngày 28/6/2016 cho chị T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung, đồng thời có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm con để gây cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Khi cần thiết, các đương sự có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.

* Về tài sản chung: Không giải quyết.

* Về án phí: chị Lê Thị Minh T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng trước tại biên lai thu tiền số 0005581, ngày 17/8/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện A, tỉnh Phú Yên. Chị T đã nộp đủ.

* Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ